VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Nếu có hình trong tệp đính kèm này, hình này sẽ không được hiển thị.   Tải xuống tệp đính kèm gốc

VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

                                                                           ThS. Giáp Thị Dịu - Đại học Tây Bắc

 

Tóm tắt: Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho sinh viên Việt Nam có lập trường chính trị vững vàng, phương pháp luận nhận thức khoa học, từ đó có niềm tin vào con đường và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi đã có niềm tin và lập trường vững vàng, họ sẽ là lực lượng lao động tiên phong, tích cực tham gia sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Từ khóa: Sinh viên Việt Nam, thế giới quan, thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh.

 
               Abstract: Education of dialectical material world view helps Vietnamese students have a firm political stance, scientific methodology cognition, which has faith in the way and the right leadership of the Communist Party of Vietnam Male.Once they have a strong belief and stance, they will be a pioneering work force, actively participating in industrialization and modernization of the country.
Keywords: Student Viet Nam, world view, world dialectical materialism, world-class dialectical education, moral qualities, healthy lifestyle.
 

1. Đặt vấn đề

Sinh viên Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp cách mạng, sau khi ra trường họ sẽ trở thành những người lao động có trình độ cao và sẽ là nguồn nhân lực chủ yếu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự phát triển bền vững của đất nước theo định hướng XHCN đòi hỏi khách quan phải trang bị cho họ nhận thức chính trị, mục tiêu về con đường đi lên CNXH của dân tộc.

Trong bối cảnh hiện nay trước sự biến đổi phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, trước chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc. Các thế lực thù địch đang chống phá CNXH, đặc biệt là trên lĩnh vực tư tưởng, nhằm làm cho hệ tư tưởng tư sản chiếm vị trí thống trị trong đời sống tinh thần. Hơn nữa, do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường đang hình thành lối sống thực dụng, một bộ phận không nhỏ trong sinh viên Việt Nam đang suy thoái về đạo đức, lối sống mơ hồ về chính trị, phai mờ về lý tưởng XHCN và đây là một bộ phận dễ bị các thế lực phản động lôi kéo. Vì vậy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên Việt Nam hiện nay là một trong những nhiệm vụ quan trọng.

2. Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của nó trong đời sống xã hội

Phạm trù thế giới quan được xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII do nhà triết học Cantơ người Đức nêu ra. Thế kỉ XVIII nhiều nhà triết học tiếp tục nghiên cứu, định nghĩa dưới nhiều cấp độ khác nhau. Ví như: "Thế giới quan được hiểu là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại" [5, tr.539]. Hay, “thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể về thế giới, về những hiện tượng tự nhiên, xã hội và các quy luật phát triển của chúng, về bản thân con người, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới”. [1, tr10]

Từ những quan niệm khác nhau về thế giới quan, ta có thể hiểu: thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. Trên cơ sở đó, thế giới quan định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người và là phương thức con người tự ý thức về bản thân mình.

Thế giới quan duy vật biện chứng bao gồm sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng khoa học, vừa có tính cách mạng, vừa có tính khoa học. Bởi lẽ, sự ra đời của thế giới quan duy vật biện chứng được xây dựng trên những tiền đề kinh tế - xã hội và tư tưởng văn hóa tiến bộ của nhân loại, mà trực tiếp nhất là dựa trên sự phản ánh khái quát đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc những tư liệu do khoa học và thực tiễn mang lại.

2. Nội dung giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên giai đoạn hiện nay

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thanh niên sinh viên là cội nguồn sức sống của dân tộc, là người chủ tương lai của nước nhà, sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản không thể thiếu sự tham gia tích cực, tự giác của thanh niên sinh viên. Với những tri thức khoa học và lòng nhiệt tình của tuổi trẻ cùng với thực tiễn đấu tranh chính trị, họ sẽ trở thành những người cộng sản giác ngộ, là người bạn đồng minh đáng tin cậy của giai cấp công nhân. Nếu được giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và được tập hợp thành tổ chức thì hoạt động phong trào cách mạng của họ gắn liền lý luận với thực tiễn.

Con đường trực tiếp và sáng tạo nhất để hình thành thế giới quan khoa học và cách mạng cho sinh viên là con đường giáo dục. Mục tiêu của giáo dục không chỉ là cung cấp những tri thức về nội dung, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thế giới quan duy vật biện chứng mà còn làm cho chúng thâm nhập vào cấu trúc nội tại của chủ thể - sinh viên và biến kiến thức trong khoa học mà sinh viên đã tiếp nhận được thành giá trị, niềm tin, lý tưởng, lập trường thế giới quan tương ứng. Nhờ đó mà sinh viên sẽ hình thành thế giới quan khoa học và cách mạng của chính mình, hình thành phương hướng tu dưỡng, rèn luyện, thành những phẩm chất chính trị, đạo đức của chính sinh viên.

Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng phải được đảm bảo cả ba thành tố cấu trúc cơ bản của nó: Thứ nhất là hệ thống tri thức khoa học cơ bản, toàn diện, hiện đại và phương pháp tư duy biện chứng; thứ hai là hệ thống niềm tin vào chân lý những giá trị xã hội nhân đạo; thứ ba là hình thành lý tưởng sống cao đẹp, tiến bộ và tính tích cực, sẵn sàng hành động vì lý tưởng đó.Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nhằm làm cho sinh viên nắm được những nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng và hướng dẫn sinh viên vận dụng lý luận đó vào thực tiễn một cách sáng tạo. Qua đó, sinh viên sẽ phát triển nhân cách một cách hài hòa: biết lĩnh hội tri thức đã học, biết biến tri thức đó thành niềm tin và lý tưởng cao cả của mình,.

Bản chất của giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là quá trình tác động đồng bộ, tích cực, có định hướng, có kế hoạch vào ý thức của sinh viên, nâng cao khả năng nhận thức, năng lực tư duy và hướng dẫn họ hoạt động thực tiễn theo một chương trình, mục tiêu cụ thể, xác định. Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là một bộ phận của giáo dục xã hội nhằm phát triển con người toàn diện.

Nội dung, chương trình giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng đó là giáo dục những nguyên tắc, nguyên lý, quy luật của phép biện chứng duy vật, để sinh viên nắm chắc thực chất tính cách mạng và tính khoa học và những biểu hiện sinh động, phong phú của chúng trong đời sống hiện thực, giúp cho sinh viên nhận thức hệ thống lý luận khoa học của Mác và Ăngghen về sự vận động của xã hội tư bản chủ nghĩa, thấy rõ được bản chất của giai cấp tư sản trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư. Nhờ bóc lột giá trị thặng dư do giai cấp công nhân tạo ra, giai cấp tư sản đã đẩy mạnh phát triển kinh tế và bước vào cuộc cách mạng công nghiệp làm tăng năng suất lao động, nhưng đồng thời cũng làm cho lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ngày càng cao, mâu thuẫn với tính chất chật hẹp của chế độ chiếm hữu tư nhân, tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì càng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất càng gay gắt. Mâu thuẫn đó chỉ giải quyết triệt để khi cuộc cách mạng giành những tư liệu sản xuất chủ yếu, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Người có sứ mệnh lịch sử thực hiện quá trình cách mạng đó là giai cấp công nhân, con đẻ của nền đại công nghiệp, đại diện cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến.

3. Vai trò của việc giáo dục thế giới duy vật biện chứng đối với sinh viên hiện nay

Trong giai đoạn cách mạng ở nước ta hiện nay, đòi hỏi sinh viên Việt Nam phải nâng cao khả năng nắm bắt tri thức khoa học cơ bản, khoa học chuyên ngành để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH, những đòi hỏi khắt khe của thị trường sức lao động thời kỳ phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay cũng như đòi hỏi của thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Điều đó cũng đòi hỏi sinh viên phải được giáo dục và rèn luyện để trở thành những con người có phẩm chất chính trị - đạo đức tiến bộ, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

3.1. Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng góp phần xây dựng lý tưởng sống cao đẹp cho sinh viên

Lý tưởng sống cao đẹp của sinh viên ngày nay là  độc lập dân tộc và CNXH, là học tập, rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp, vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước. Mỗi sinh viên phải biết phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Sinh viên Việt Nam là những người có tuổi đời còn trẻ, họ có nhiều hoài bão ước mơ, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn thử thách, cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho mục tiêu cao cả của dân tộc.

Nhưng ở họ lại có những hạn chế, tuổi đời còn ít, kinh nghiệm cuộc sống chưa nhiều, lại thiếu từng trải, vì vậy trong cuộc sống nhiều lúc họ tỏ ra bồng bột, chưa thực sự chín chắn trong suy nghĩ và hành động. Do đó, cần phải giáo dục hướng dẫn sinh viên hình thành lý tưởng cao đẹp, biết biến lý tưởng thành hiện thực, biết cụ thể hóa lý tưởng của mình trong cuộc sống lao động, học tập và sinh hoạt hàng ngày của mỗi sinh viên.

3.2. Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng góp phần xây dựng giá trị đạo đức tốt đẹp và lối sống lành mạnh

Giáo dục đạo đức cho sinh viên ngày nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác giáo dục đào tạo bởi nó là cơ sở nền tảng hình thành con người mới, những con người có đủ năng lực gánh vác được trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, là "lực lượng quan trọng trong sự nghiệp thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa định hướng xã hội chủ nghĩa".

Trước thực trạng suy thoái về đạo đức lối sống của một bộ phận sinh viên hiện nay, thì việc xây dựng phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh làm cho họ vừa có tài vừa có đức để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xây dựng đất nước là một trong những vấn đề cấp bách. Việc xây dựng phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh sẽ không phải chỉ là tuyên truyền, hô hào, kêu gọi sinh viên làm việc thiện, không làm điều ác, là sống có tình có nghĩa, là phải hy sinh lợi ích riêng của cá nhân để phục vụ cho lợi ích chung... mà vấn đề cốt lõi là phải trang bị cho sinh viên thế giới quan duy vật biện chứng một cách toàn diện và vững chắc.

Bởi vì, khi được giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng sẽ hình thành ở sinh viên nhân sinh quan cộng sản - quan niệm của người ta về cuộc đời, ý nghĩa, mục đích của con người là phải đấu tranh để thực hiện một xã hội không còn áp bức bóc lột giữa con người với nhau, một xã hội công bằng, ở đó con người có một cuộc sống đầy đủ về vật chất và có đời sống văn hóa tinh thần phong phú. Từ đó sinh viên thấy được giá trị, ý nghĩa và mục đích cuộc sống của con người, "không có gì quý hơn độc lập tự do, họ sẽ biết nêu cao tinh thần đấu tranh bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tốt, lên án cái ác, cái xấu và cái tiêu cực, có thái độ kiên quyết, dứt khoát đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi mọi cái tiêu cực, sa đọa, suy thoái về đạo đức và lối sống trong nhà trường cũng như ngoài xã hội.

3.3. Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng góp phần rèn luyện phương pháp tư duy khoa học nhằm khắc phục những tư tưởng duy tâm

Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển tư duy lý luận cho sinh viên. Với việc giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm dễ làm chúng ta rơi vào tư tưởng chủ quan duy ý chí. Căn bệnh cố hữu này đang trở thành lực cản to lớn đối tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ nói chung và sinh viên Việt nam nói riêng. Nó cũng là lực cản rất lớn cho công tác giáo dục của Đảng và Nhà nước ta đối với thế hệ trẻ hiện nay.

Thế hệ trẻ - sinh viên Việt nam nói chung đang đứng trước một thực tế là có sự dao động về thế giới quan. Thế giới quan duy tâm với phương pháp tư duy siêu hình đang hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của họ. Thế giới quan duy vật biện chứng đang được giáo dục cho sinh viên thông qua hệ thống nội dung chương trình nhưng thực tiễn của đất nước có sự thay đổi lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, hơn nữa thế giới lại có sự biến động to lớn, đó là chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, chủ nghĩa tư bản đang vẫn còn thể hiện sức sống của mình về tiềm lực kinh tế và quân sự... Tất cả thực tiễn đó đang đặt ra cho sinh viên sự khó khăn trong việc lựa chọn định hướng. Vì vây việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận của sinh viên để cho họ có khả năng giải thích những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống một cách khách quan và khoa học, hiểu được tính khoa học và cách mạng của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, hiểu được đường lối, chính sách của Đảng ta là đúng đắn, họ sẽ có khả năng khắc phục được những sai lầm trong nhận thức, chống lại những tư tưởng phản khoa học và cách mạng, chống lại thế giới quan duy tâm cũng như chủ nghĩa duy vật siêu hình.

3.4. Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho sinh viên nhận thức sâu sắc những vấn đề của thời đại

Thế giới quan duy vật biện chứng mà hạt nhân lý luận của nó là triết học duy vật biện chứng cùng với các khoa học khác đã luận chứng về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của một chế độ mới, chế độ cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Lý luận khoa học đó đã được thực tiễn chứng minh bằng sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã nổ ra và thắng lợi ở khắp năm châu; chính hệ thống này đã góp phần to lớn cho việc giữ gìn hòa bình, thúc đẩy tiến bộ xã hội, đã làm náo nức hàng triệu triệu con người trên thế giới.

Hiện nay chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới lâm vào thoái trào. Trong khi đó chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn thể hiện sức sống của nó. Các nhà nước tư sản có những điều chỉnh trong quan hệ sản xuất, điều chỉnh về chính sách xã hội, xét những biểu hiện bên ngoài, thì chúng ta dễ lầm tưởng rằng chủ nghĩa tư bản là tiến bộ, là tốt đẹp, chủ nghĩa xã hội đã chấm dứt sự tồn tại của mình và như vậy là họ có thể dao động, có thể mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội. Nhưng nếu được trang bị một cách toàn diện và khoa học về thế giới quan duy vật biện chứng thì chúng ta sẽ có những nhận thức đúng đắn về tình hình chính trị - xã hội trên thế giới đang diễn ra hết sức phức tạp. Thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp cho sinh viên hiểu được chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay vẫn không phải là chế độ tiến bộ nhất trong lịch sử loài người, chủ nghĩa xã hội đã lâm vào khủng hoảng, nhưng đó là sự khủng hoảng của một mô hình không phù hợp mà thôi. Sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội là sự khủng hoảng trong sự trưởng thành, theo quy luật vận động của xã hội, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ chiến thắng. Những thành công trong công cuộc đổi mới của Việt Nam là thực tiễn sinh động chứng minh cho xu hướng tất yếu của lịch sử.

Kết luận

Như vậy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên Việt nam hiện nay có vai trò hết sức quan trọng, giúp cho sinh viên Việt Nam có được phương pháp luận khoa học, có niềm tin vào CNXH, vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Khi đã có niềm tin và lập trường vững vàng thì sinh viên tham gia vào thực tiễn cuộc sống với tư cách người lao động có trình độ cao, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng muốn đem lại hiệu quả cao thì đòi hỏi phải thực hiện một cách căn bản, khoa học, lâu dài. Bởi theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử. Mác viết: “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ mà trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [1, tr15].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Hoàng Chí Bảo (tháng 6, năm 2000), "Giáo dục đạo đức, nhân cách cho sinh viên đại học ở nước ta hiện nay - quan niệm, vấn đề và giải pháp", Tạp chí Lý luận sinh hoạt chính trị, (39), tr 31 - 35.

3. Từ điển Triết học (1986), Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

4. Nguyễn Huy Hoàng (2003), "Mấy suy nghĩ về việc xác định bản chất của thế giới quan", Tạp chí Triết học, tr 24 – 30

5. Lê Thanh Sinh (2002), “Trang bị lý luận - phép biện chứng duy vật cho sinh viên là nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong các trường đại học hiện nay” Tạp chí triết học (7/134), tr 59 - 64.

 

 

 

MỘT VÀI KHÍA CẠNH VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH GIỚI

MỘT VÀI KHÍA CẠNH VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH GIỚI

Ts. Phạm Thu Hà

 

1. Đặt vấn đề.

Bình đẳng giới là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm, ngay cả ở các quốc gia phát triển thì vẫn tồn tại một khoảng cách khác biệt giữa giới nam và giới nữ. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác bình đẳng giới. Trong những năm qua, những nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng giới của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, thành tựu đạt được, vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế, đặt biệt là ở vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Để nghiên cứu và có những hành động, chính sách quyết liệt hơn nhằm giảm bớt tình trạng này dần dần tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng giới, chúng ta cần một công cụ hữu ích là công cụ phân tích giới của Haverd, công cụ này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về đời sống của người phụ nữ ở nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số như thế nào. Từ đó sẽ tiến tới việc lồng ghép giới vào các chính sách, các hoạt động cụ thể nhằm giảm tình trạng bất bình đẳng giới và tiến tới xóa bỏ tình trạng này.

2. Nội dung

2.1. Các khái niệm

2.1.1. Giới

Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ bộ môn nhân loại học nói đến vai trò và quyền lợi xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích. Vai trò của giới  được xác định thông qua văn hoá không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và những đặc tính giới mà chúng ta học được những tính cách giới từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của chúng ta. (Lê Thị Quý - Đặng Cảnh Khanh, Gia đình học)

2.1.2. Phân tích giới

- Là quá trình thu thập và phân tích thông tin về tác động của chương trình kế hoạch, dự án…đối với các hoạt động của phụ nữ và nam giới trong một địa bàn cụ thể.

- Là công cụ để nhà lập kế hoạch hiểu được tình hình trước khi tiến hành kế hoạch hành động, cũng như đánh giá nhu cầu nhưng ở mức độ cao hơn xem xét điều mà phụ nữ cần và điều mà nam giới cần.

- Là sự mô tả địa lý kinh tế - xã hội của nam và nữ, bằng cách xem xét những hoạt động mà nam và nữ làm, họ có thể tiếp cận với những cơ hội và nguồn nào. Sau đó xem xét các ý nghĩa của những khác biệt này đối với việc thiết kế các dự án.

2.2. Phân tích các công cụ phân tích giới

Có nhiều khung phân tích giới như khung phân tích Haves, khung phân tích Moser, khung tăng quyền năng cho phụ nữ… Khung phân tích Harverd là một trong những khung phân tích giới đầu tiên trên thế giới do các nhà nghiên cứu  thuộc viện nghiên cứu phát triển thế giới Harverd và kết hợp với văn phòng “Phụ nữ trong phát triển” của cơ quan phát triển hỗ trợ Mĩ xây dựng vào năm 1985. Khung phân tích này áp dụng cho các dự án về nông nghiệp, nông thôn và các dự án tiếp cận sinh kế bền vững để giảm nghèo.

                  Phân tích giới giúp chúng ta có được những thông tin cụ thể về những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của một chương trình/ kế hoạch/ dự án/ chính sách... đối với phụ nữ và nam giới. Từ kết quả phân tích có thể hiểu được nguyên nhân để đưa ra biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của chương trình ... thông qua việc đảm bảo lợi ích của cả phụ nữ và nam giới.

Bao gồm bốn công cụ sau đây:

Bảng phân tích giới

Đơn vị diện tích

1, Phân công lao động theo giới.

2, Tiếp cận và kiểm soát.

3, Ra quyết định

4, Nhu cầu giới thực tiễn và chiến lược

 

 

 

 

 

 

 

Công cụ 1. Phân công lao động theo giới

 

                  + Phân công lao động theo giới: Được xem là công cụ phân tích giới có tính chất chiến lược nhằm trả lời cho câu hỏi: Có phải cả nam giới và phụ nữ đều hài lòng về phân công lao động theo giới hiện nay không, tại sao? Chúng ta có thể thay đổi điều đó như thế nào để cả nam giới và phụ nữ đều hài lòng? Phân công lao động theo giới chia ra thành những công việc trong gia đình, công việc sản xuất và công việc ngoài xã hội, trong tất cả các xã hội phụ nữ và nam giới tham gia vào tất cả các công việc gia đình và sản xuất, bản chất qui mô sự tham gia của họ trong mỗi hoạt động phản ánh sự phân chia lao động theo giới rất rõ rệt. Sự phân chia này tuỳ thuộc vào các yếu tố như kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và khả năng lao động của nam và nữ, điều này giúp chúng ta xác định được: Cường độ lao động, sự tiêu tốn thời gian, trí tuệ vào công việc và sử dụng thời gian rỗi của mọi người. Trong phân công lao động theo giới có các loại công việc khác nhau nó biểu thị sự khác biệt về giới tính và giới. Việc gia đình gồm chăm lo và duy trì các nhu cầu con người cơ bản của hộ gia đình và các thành viên trong gia đình (Các nhu cầu thực tế: thức ăn, chỗ ở, giáo dục, sức khoẻ) điều này nhằm chăm sóc cho lực lượng sản xuất như cha mẹ đang làm việc cũng như lực lượng lao động tiềm năng hay lực lượng lao động tương lai như con cái và trẻ em đang đi học, việc nhà là việc cực kỳ quan trọng cho sự tồn tại của con người nhưng hiếm khi được coi là công việc thực sự, đó là công việc lao động có cường độ mạnh, tốn thời gian và phần nhiều luôn là trách nhiệm của phụ nữ. Công việc sản xuất là sản xuất hàng hoá và dịch  vụ cho tiêu dùng và thương mại, công việc sinh lợi hoặc trao đổi giá trị, về phương diện này phụ nữ bị đứng ở vị trí thấp hơn so với nam giới đặc biệt trong vấn đề đồng lương, đánh giá. Công việc cộng đồng là các hoạt động thực hiện cho các lợi ích cộng đồng để đảm bảo cho việc cung cấp và duy trì cho việc chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, những công việc mang tính tự nguyện thường do phụ nữ làm và những công việc được trả lương càng cao thường do nam giới làm, từ đó có thể thấy bất bình đẳng trong việc phân công lao động theo giới đã và đang diễn ra trong đời sống lao động thường ngày của phụ nữ và nam giới. Phụ nữ phải đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau với một khối lượng công việc và sự tiêu tốn nhiều thời gian hơn nam giới. Việc phân chia lao động theo giới là cơ sở cho việc cân đối lại một cách hợp lý nhu cầu chiến lược giới trong các dự án/ chiến lược/ kế hoạch giới, tìm ra câu trả lời xem có sự chia sẻ giữa nam giới trong các công việc gia đình với phụ nữ hay không.

Họat động    

Phụ nữ/trẻ em gái

Nam giới/trẻ em trai.

sản xuất nông nghiệp

Trồng trọt

  7,5 tiếng

- Gieo hạt

- Cày, cấy.

- Nhổ cỏ

- Tát nước

- Phun thuốc trừ sâu.

- Chăm sóc cây lúa và hoa màu,gặt lúa.

- Trưng phơi hoa màu,thóc lúa.

7,5 tiếng

- Cày

- Tát nước

- Phun thuốc trừ sâu.

- Trưng phơi hoa màu,thóc lúa.

Chăn nuôi

- Chăn trâu, bò.

- Nấu cám cho lợn, gà…

- Cho lợn, gà ăn.

- Chăn trâu, bò.

- Nấu cám cho lợn, gà…

- Cho lợn, gà ăn.

Sản xuất phi nông nghiệp

- Buôn bán ( các sản phẩm nông sản, đồ gia dụng, thức ăn chăn nôi, thủ công nghiệp…)

- Sản xuất thủ công nghiệp( Làm đường, thêu thùa, đan lát…)

- Buôn bán ( các sản phẩm nông sản, đồ gia dụng, thức ăn chăn nôi, thủ công nghiệp…)

- Sản xuất thủ công nghiệp( Làm đường, đan lát, lò rèn, lò đúc…)

Các công việc trong gia đình.

6 tiếng

- Nội chợ

- Giặt quần áo.

- Dọn dẹp việc nhà.

- Cho con,em ăn.

- Dạy con,em học.

- Chăm sóc con,em.

Có thể đến 2 tiếng

- Dọn dẹp việc nhà.

- Dạy con học.

 

Q

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                               

Mô hình phân công lao động trong gia đình người nông dân ta có thể nhận diện được sự phân công lao động trong gia đình, việc sử dụng các nguồn lực, lượng hoá thời gian làm việc của nam và nữ, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và công việc. Qua mô hình trên ta nhận thấy rằng phụ nữ và trẻ em gái có thời gian làm việc sản xuất bằng với nam giới và trẻ em trai nhưng các công việc trong gia đình lại do phụ nữ và trẻ em gái đảm nhận. Sự phân biệt đối xử này dựa trên nền tảng của định kiến giới là “phụ nữ có thiên hướng về gia đình, nam giới có thiên hướng về sự nghiệp”. Những công việc nhỏ vặt vãnh trong gia đình chiếm rất nhiều thời gian của phụ nữ trong khi nam giới không bị chi phối bởi các công việc đó cho nên họ có thể tập trung cho công việc sản xuất hơn phụ nữ nên chất lượng và năng xuất công việc của họ có thể hơn phụ nữ. Đàn ông cho rằng công việc nhà không phải là việc của đàn ông hoặc quan niệm một người đàn ông làm các công việc trong gia đình sẽ bị mất tính nam nhi. Nhiều người phụ nữ cũng coi các công việc trong gia đình là việc của nữ giới, không yêu cầu hoặc không đánh giá cao sự tham gia của đàn ông. Chúng ta có thể quan sát rõ sự bất bình đẳng trong phân công lao động tại một gia đình nông thôn qua một nghiên cứu tại tỉnh Bắc Ninh năm 2003 (Trần Thị Minh Đức, “Định kiến và phân biệt đối xử theo giới lý thuyết và thực tiễn”).

                                  Bảng thời gian biểu của gia đình nông thôn

Thời gian

Vợ

Chồng

5h sáng

Thức dậy, thái rau lợn, nấu cám lợn, đun nước, quét dọn nhà cửa và chuẩn bị cơm sáng cho cả gia đình

Ngủ                                        

5h30 sáng

Cho lợn gà ăn và đi chợ mua thức ăn.

Dậy tập thể dục, xem tivi

6h sáng

Ăn cơm sáng, dọn dẹp

Ăn sáng, uống nước

6h30

 

 

 

Đi ra đồng, gieo hạt, tát nước nhổ cỏ, bón phân, phun thuốc trừ sâu, chăm sóc cây lúa và cây hoa màu.

Đi ra đồng, gieo hạt, tát nước nhổ cỏ, bón phân, phun thuốc trừ sâu, chăm sóc cây lúa và cây hoa màu.

11h30

Về nấu nướng chuẩn bị ăn trưa.

Về uống nước hoặc sang chơi nhà hàng xóm.

12h

Ăn cơm trưa

Ăn cơm trưa.

12h30

Rửa bát, phơi thóc lúa, cho lợn gà ăn, nấu rau lợn, nấu cám.

Uống nước

13h

Ngủ trưa

Ngủ trưa

14h

Làm việc ngoài đồng.

Làm việc ngoài đồng.

17h30

Trở về nhà, nấu cơm, cho gà lợn ăn

Đi tắm hoặc sang chơi nhà hàng xóm, xem tivi hoặc làm việc nhà (do vợ nhờ)

18h30

Ăn cơm tối

Ăn cơm tối

19h30

Rửa bát, đi tắm, giặt giũ quần áo cho cả nhà.

Uống nước xem tivi

21h

Xem phim truyện hoặc chơi nhà hàng xóm.

Xem tivi hoặc chơi nhà hàng xóm.

22h30

Đi ngủ

Đi ngủ

 

Có thể chia lao động gia đình thành 2 loại. Một loại gồm những hoạt động kinh tế tạo ra sản phẩm hàng hoá hay thu nhập; Một loại lao động gồm những công việc không trực tiếp tạo ra hàng hoá hay thu nhập bằng tiền mà phụ nữ thường phải đảm đương trong gia đình. Thứ nhất, là mô hình phân công lao động theo thiên chức gọi tắt là mô hình thiên chức. Trong mô hình này, phần lớn các loại công việc trong gia đình là do người phụ nữ thực hiện là chủ yếu. Thứ hai là mô hình kết hợp vai giới, mô hình này phụ thuộc vào loại công việc và thành phần nghề nghiệp của gia đình, thường thì trong các gia đình có trình độ học vấn thì cơ hội bình đẳng trong phân công lao động giữa vợ và chồng lớn hơn.

               Công cụ hai: Mô hình tiếp cận và kiểm soát

Các nguồn

Phụ nữ

Nam giới

Tiếp cận

Kiểm soát

Tiếp cận

Kiểm soát

Đất đai

Đất ở

rất ít

nhiều

Đất canh tác

rất ít

nhiều

Máy móc công nghệ

rất ít

nhiều

Vốn

Vay xoá đói giảm nghèo

rất ít

nhiều

Vốn quyên góp của cộng đồng

rất ít

nhiều

Giáo dục đào tạo

Cho bản thân

Cho con cái

 ít

nhiều

Trợ giúp kĩ thuật

rất ít

nhiều

Các cơ hội ra quyết định

Trong gia đình

rất ít

nhiều

Ngoài xã hội

rất ít

nhiều

Thông tin

Sản xuất

nhiều

Văn hoá-chính trị

 ít

nhiều

Lợi ích

Thu nhập tiền mặt hiện vật

ít

nhiều

Sở hữu tài sản

Tư liệu sản xuất

rất ít

nhiều

Đồ dân dụng

rất ít

nhiều

Quyền lực và vị trí chính trị

Trong gia đình

Thấp

Cao

Xã hội

Thấp

Cao

Các cơ hội khác

ít

nhiều

                 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giúp xác định mức độ tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực lực, lợi ích của nam và nữ như thế nào, ai là người có khả năng tiếp cận và ai là người kiểm soát các nguồn lực ấy, ai là người được hưởng lợi ích nhiều nhất. Ai là người tiếp cận với các nguồn cần thiết để thực hiện công việc, kiểm soát các nguồn để sử dụng theo mong muốn, tiếp cận với các lợi ích có được từ công việc và kiểm soát các lợi ích này.

                  Theo mô hình trên ta có thể thấy tất cả các nguồn và lợi ích được chia ra theo lĩnh vực cụ thể và có sự khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Phụ nữ phải làm rất nhiều loại công việc khác nhau nhưng lại không có sự kiểm soát với từng loại giá trị đó, có thể họ vẫn được tiếp cận để trợ giúp cho công việc của mình nhưng đổi lại nam giới lại là người kiểm soát nhiều nhất đối với các nguồn và lợi ích. Phụ nữ được quyền vay vốn để sản xuất nhưng họ không phải là người kiểm soát số vốn đó. Phụ nữ không có nhiều cơ hội được tiếp cận và kiểm soát giáo dục và đào tạo. Việc giáo dục và đào tạo cho con cái thì phụ nữ ít được kiểm soát mà do chồng kiểm soát. Trợ giúp kĩ thuật phụ nữ ít được kiểm soát hơn nam giới. Trong khi đó chính người phụ nữ lại làm việc nhiều nhất. Các cơ hội ra quyết định phụ nữ và nam giới đều có quyền tiếp cận nhưng người kiểm soát lại là nam giới. Nam giới thường là người đưa ra các quyết định cuối cùng. Về lợi ích, thu thập tiền mặt hiện vật, phụ nữ được coi là tay hòm chìa khoá trong gia đình. Họ được phép giữ tiền mặt, hiện vật cho cả gia đình nhưng họ ít được phép quyết định số tiền đó sẽ được dùng vào việc gì. Mà do chình người đàn ông quyết định. Từ trước đến bây giờ người phụ nữ có địa vị thấp trong gia đình và xã hội. Cho nên quyền lực và vị trí chính trị của phụ nữ luôn thấp hơn nam giới.

                  Dựa vào mô hình trên chúng ta có thể thấy được bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong sự kiểm soát các nguồn nhất là vấn đề sở hữu tài sản và quyền ra quyết định, thông thường thì phụ nữ chỉ tham ra vào các công việc vặt trong gia đình còn đối với những công việc trọng đại hầu như không có tiếng nói, điều này đòi hỏi phải tạo ra cơ hội nhiều hơn nữa để phụ nữ khẳng định vị trí của mình trong xã hội.

Mô hình 3: Việc ra quyết định

                  Mô hình ra quyết định với mục đích để phân biệt ai là người ra quyết định, mức độ ra quyết định, ai là người bị tác động, ai là người được tư vấn cho quá trình ra quyết định và ai là người ra quyết định cuối cùng. Mô hình ra quyết định giúp cho chúng ta hiểu được các quyết định khác nhau đã tác động đến cuộc sống của các nhóm đối tượng như thế nào? Mặc dù người vợ thực hiện nhiều công việc hơn chồng nhưng nhưng hình như chồng vẫn có quyền quyết định nhiều hơn vợ nhất là ở các gia đình nông thôn truyền thống với sự tồn tại của chế độ gia trưởng.

Các công việc ra quyết định

Vợ

Chồng

Người quyết định cuối cùng

Xây dựng nhà cửa

Ít

Nhiều

Chồng

Mua bán đất đai

Ít

Nhiều

Chồng

Việc học tập của con cái

Ít

Nhiều

Chồng

Phát triển kinh tế gia đình

Ít

Nhiều

Chồng

Công việc mua bán hằng ngày

Như nhau

Như nhau

Chồng

Việc liên quan đến họ tộc

Không

Nhiều

Chồng

Việc đồng án

Nhiều

Ít

Vợ

Chi tiêu trong gia đình

Như nhau

Nhu nhau

Chồng

Dựng vợ gả chồng cho con

Ít

Nhiều

Chồng

Hoạt động đối nội

Ít

Nhiều

Chồng

Hoạt động đối ngoại

Ít

Nhiều

Chồng

Chuyển nhượng quyền thừa kế

Ít

Nhiều

Chồng

Mua sắm đồ đạc vật dụng

Ít

Nhiều

Chồng

Sinh con

Ít

Nhiều

Chồng

 

Trên đây là mô hình ra quyết định trong một gia đình làm nghề nông nghiệp. Ta thấy: Việc ra quyết định của người vợ ít hơn người chồng rất nhiều. Các công việc như mua bán hằng ngày, chi tiêu trong gia đình, vợ và chồng đều quyết định như nhau nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về người chồng. Chỉ có việc đồng án là người vợ được ra quyết định vì họ là lao động nhiều nhất và chủ yếu. Lao động giữa vợ và chồng là quan hệ kinh tế bình đẳng, khi phụ nữ không phải là người phụ việc cho nam giới mà là người  bạn đối tác trong lao động và là người có tiếng nói quyết định trong việc sử dụng kết quả lao động. Trong nhiều gia đình ở thành thị cũng như ở nông thôn, toàn bộ tài chính, kinh tế chi tiêu nằm trong tay phụ nữ “tay hòm chìa khoá”, nhưng trên thực tế  người có quyền ra quyết định mới thực sự là người chủ, người có quyền hành chi phối các nguồn lực trong gia đình. Phụ nữ trong một số trường hợp có thể là người nhân quĩ gia đình nhưng quyết định chi tiêu như thế nào có thể lại do người chồng đặc biệt với những khoản chi lớn. Nguyên nhân là do tư tưởng phong kiến, do quan niệm và hệ giá trị phong kiến, bảo thủ về vị trí vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình còn nặng nề, do xã hội đánh giá thấp ý nghĩa của các công việc trong gia đình, nam giới thiếu động lực trong việc chia sẻ công việc gia đình.

Như vậy qua việc phân tích việc ra quyết định trong gia đình cũng như các công việc ngoài xã hội chúng ta thấy sự bất bình đẳng giới trong một số khu vực nông thôn. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc lồng ghép giới sau này.

          Mô hình 4: Các nhu cầu giới

Công cụ này để tìm hiểu các nhu cầu thực tế và nhu cầu chiến lược của nam giới và phụ nữ nhu thế nào? Chúng được đáp ứng như thế nào?

 

Các nhu cầu thực tế

Các nhu cầu chiến lược

Các điều kiện vật chất

Cải thiện vị trí kinh tế/ chính trị/ xã hội

Chức năng phân công lao động

Những thách thức của phân công lao động theo giới, tiếp cận kiểm soát và ra quyết định

Ví dụ: Nước uống

Dinh dưỡng

Sức khoẻ bà mẹ trẻ em

Ví dụ: Độc lập về kinh tế

Giáo dục kiến thức

Tự do cá nhân

Nhận biết về chính trị quyền lực

Nhu cầu giới thực tế không làm thay đổi các mối quan hệ giới

Nhu cầu giới chiến lược làm thay đổi các mối quan hệ giới

 

                 * Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu mà phụ nữ xác định được trong những vai trò của họ được xã hội chấp nhận. Nhu cầu giới thực tế không đòi hỏi xoá bỏ phân công lao động theo giới, hay vị trí thấp kém của phụ nữ trong xã hội mặc dù những nhu cầu này nảy sinh từ đó ra. Nhu cầu giới thực tế là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức tức thì, được xác định  trong hoàn cảnh cụ thể. Những nhu cầu này mang tính thực tế về bản chất thường liên quan đến những bất hợp lý trong điều kiện sinh sống như cung  cấp nước, chăm sóc sức khoẻ và việc làm. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng  với những lợi ích thực tế của họ là sự tồn tại  của con người. Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể.

            * Nhu cầu giới chiến lược: Nhu cầu giới chiến  lược là những nhu cầu mà phụ nữ xác định được vì vai trò thấp kém của họ so với đàn ông trong xã hội. Nhu cầu giới chiến lược thay đổi theo các điều kiện cụ thể. Chúng liên quan đến phân công lao động  theo giới, đến quyền lực, sự kiểm soát và có thể bao hàm cả những vấn đề như quyền pháp lý, bạo lực trong gia đình, tiền công công bằng và sự kiểm soát của phụ nữ đối với thân thể của họ. Việc đáp ứng những nhu cầu này của phụ nữ giúp phụ nữ đạt được sự công bằng lớn hơn. Nó sẽ thay đổi vị trí hiện hành và từ đó thay đổi vị trí thấp kém của  phụ nữ. Nhu cầu giới chiến lược là những nhu cầu được hình thành từ sự phân tích vị trí thấp kém của phụ nữ so với nam giới, xoá bỏ phân công lao động theo giới; giảm gánh nặng việc nhà và chăm sóc con cái...

Các nhu cầu thực tế của nam và nữ như ăn, mặc, ở, an ninh… chỉ có thể làm thay đổi các nhu cầu thực tiễn trước mắt không thể thay đổi những định kiến giới truyền thống, sự phân công lao động trong gia đình, trong xã hội. Nhu cầu chiến lược của phụ nữ cao hơn của nam giới vì họ có địa vị thấp hơn, không được xã hội coi trọng như người đàn ông… Việc đáp ứng các nhu cầu chiến lược sẽ xoá bỏ được các định kiến trong xã hội và sẽ giảm đựơc sự bất bình đẳng giới tiến tới thực hiện bình đẳng giới một cách nhanh chóng và dễ dàng.

2.3. Ý nghĩa của công cụ này với việc lồng ghép giới

 Qua các công cụ trên chúng ta chúng ta sẽ thu thập được các thông tin và kết luận ở đó có sự bất bình đẳng giới hay không? Từ đó chúng ta sẽ quyết định có hay không việc đưa lồng ghép giới vào các chính sách để tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng giới. Vì bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân của đói nghèo, lạc hậu và là một rào cản chính đối với sự phát triển bền vững tiến tới công bằng xã hội và nó gây ra tác động tiêu cực tới mọi thành viên trong xã hội. Các công cụ phân tích giới mà Harverd đã xây dựng sẽ giúp chúng ta thu thập và sử lý các thông tin có thể sử dụng trong bất kì chu trình nào của dự án lồng ghép giới một cách chính xác nhất và một cách nhanh nhất.

+ Từ công cụ: Phân công lao động theo giới khi chuyển thông tin sang lồng ghép giới chúng ta sẽ thấy: Có phải nam giới và phụ nữ đều hài lòng về phân công lao động theo giới hiện nay không? Tại sao? Và Chúng ta có thể thay đổi điều đó như thế nào để cả nam giới và phụ nữ đều hài lòng?

+ Từ công cụ: Mô hình tiếp cận và kiểm soát nguồn và lợi ích khi chuyển thông tin sang lồng ghép giới chúng ta sẽ có được các thông tin sự tiếp cận và kiểm soát của phụ nữ được tăng cường như thế nào?  Sự tiếp cận và kiểm soát của phụ nữ đối với các lợi ích được tăng cường như thế nào?

+ Từ công cụ: Mô hình ra quyết định chúng ta thấy: Quyền lực ra quyết định của phụ nữ có thể được tăng cường như thế nào?

+ Từ công cụ: Nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới chiến lược cung cấp cho chúng ta thông tin: Nhu cầu giới thực tế của phụ nữ là gì? Chúng có thể được giải quyết như thế nào? Nhu cầu giới chiến lược của phụ nữ là gì? Chúng có thể được giải quyết như thế nào?

Sau khi chúng ta tiến hành thu thập thông tin thực tế từ các công cụ phân tích giới. Chúng ta sẽ đưa ra các mục tiêu cụ thể của địa bàn nghiên cứu. Để thực hiện được các mục tiêu đó thì có những thách thức trở ngại gì, có những cơ hội gì, và những hoạt động cụ thể như nào để có thể thực hiện được mục tiêu đó để tiến tới xóa dần bất bình đẳng giới.

 Những thông tin cung cấp được từ các công cụ phân tích giới nêu trên sẽ được các nhà nghiên cứu, các chuyên gia sử dụng nhằm điều chỉnh các chính sách, đẩy mạnh quá trình cùng tham gia của cả nam và nữ để đảm bảo rằng cả nam và nữ đều có sự tiếp cận và kiểm soát bình đẳng với mọi nguồn sản xuất, lợi ích, việc làm và các cơ hội ra quyết định ở mọi cấp; đảm bảo đáp ứng cả nhu cầu giới thựe tế và nhu cầu giới chiến lược. Trên cơ sở đó lồng ghép giới tiến tới việc thay đổi vai trò giới  qua đó nam giới chịu trách nhiệm nhiều hơn với công việc gia đình và phụ nữ chịu trách nhiệm nhiều hơn với công việc chính trị.

2.4. Ý nghĩa thực tiễn

Trong thực tế mỗi vùng miền trong đất nước ta điều kiện tự nhiên khác nhau, phong tục tập quán cũng khác nhau chính vì vậy qua công cụ phân tích giới chúng ta sẽ thấy được điều kiện nhu cầu thực tế của từng vùng miền mà có những chính sách cụ thể.

Bốn công cụ phân tích giới đã nêu ở trên là những chỉ báo quan trọng để phân tích đánh giá các vấn đề khác nhau liên quan đến phụ nữ và nam giới ở 1 vùng, 1 địa phương, 1 đất nước cụ thể. Từ đó, các nhà quản lý sẽ có các chính sách hoạch định cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng vùng, miền, đất nước. 

Bốn công cụ phân tích giới cho phép người nghiên cứu tiếp cận thông tin phản hồi trực tiếp từ phía những người dân ngay tại địa bàn nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau (viết, vẽ, chỉ bảng…) kể cả khi trình độ dân trí tại địa bàn nghiên cứu thấp hoặc quá thấp (không biết đọc, viết). Nó giúp phản hồi lại những vấn đề được nhận thức do những người đi đánh giá còn thiếu sót trong việc liên hệ với chính kiến của người dân.

Đồng thời việc phân tích giới còn dùng để giúp nhận diện vấn đề không chỉ với người ngoài mà cả đối với bản thân người trong cộng đồng, người nam và người nữ tham gia trong quá trình nghiên cứu. Phụ nữ và nam giới sẽ có cơ hội xem xét, phân tích vấn đề trong mối quan hệ giữa 2 giới. Đây là tiền đề chính cho sự thay đổi hướng tới mục tiêu bình đẳng giới.

Chúng ta có rất nhiều các dự án về giới thực hiện ở nước ta và sử dụng các công cụ phân tích giới này đề đã thành công như “dự án VIE 01-015-01 “giới trong hoạch định chính sách công” của uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ” dự án này đã thành công lớn về việc hướng dẫn lồng nghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách ở các cấp ngành, cơ sở. Qua dự án này, số chị em phụ nữ được tham gai vào đội ngũ lãnh đạo đã tăng lên, sự bất bình đẳng giới trong các ngành các cấp giảm. Hay “dự án Hỗ trợ Chương trình cải cách hành chính tại bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (VIE 02/016).” về việc phân tích giới tại bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

 

 

3. Kết luận

Chúng ta đang tiến tới một xã hội công bằng hơn, bình đẳng hơn vì sự phát triển của nhân loại. Muốn làm được điều đó điều quan trọng là phải dần dần đi tới việc xóa bỏ bất bình đẳng về giới. Qua 4 công cụ phân tích giới chúng ta thu thập được các thông tin về phân công lao động, về cách tiếp cận và kiểm soát, về việc ai là người ra quyết định và nhu cầu giới chiến lược cũng như thực tế của người dân ở các địa bàn nghiên cứu là gì. Từ đó chúng ta sẽ có những thông tin cụ thể và chi tiết để đưa ra các mục tiêu, những chính sách, những thách thức, những hoạt động cụ thể để lồng ghép giới. Tiến tới xóa bất bình đẳng về giới.

 

 

 

Tài liệu than khảo

1.      Trần Thị Minh Đức, “Định kiến phân biệt và đối xử theo giới lý thuyết và thực tiễn”.

2.      Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý, “Gia đình học”.

3.      Dự án VIE 01-015-01 “giới trong hoạch định chính sách công” của uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ”.

4.      Slide bài giảng – Phân tích giới & Lồng ghép giới, PGS-TS Lê Thị Quý

5.      Lồng ghép giới vào phân tích chính sách dân số và nhân khẩu học, Lê Ngọc Hùng, Tạp chí Khoa học về phụ nữ số 2/2006.

 

 

 

VẬN DỤNG TRIẾT LÝ: GIÁO DỤC CHO CON NGƯỜI VÀ VÌ CON NGƯỜI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ HIỆN NAY

VẬN DỤNG TRIẾT LÝ: GIÁO DỤC CHO CON NGƯỜI VÀ VÌ CON NGƯỜI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ HIỆN NAY

Th.s Đào Văn Trưởng – Trường Đại học Tây Bắc.

Tóm tắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, kiệt xuất của Việt Nam và thế giới thế kỷ XX. Đồng thời, Người là nhà giáo dục, nhà sư phạm tài năng, mẫu mực với những triết lý giáo dục nhân văn cao cả và mang tính thời đại sâu sắc. Trong đó, phải kể đến triết lý giáo dục tất cả cho con người và vì con người (Khái niệm nội hàm con người với ý nghĩa là nhân loại nói chung, không có sự phân biệt về biên giới quốc gia, lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo, giới tính, thành phần giai cấp, địa vị xã hội…) của Hồ Chí Minh. Đây cũng là mục tiêu, lý tưởng và sứ mệnh lịch sử mà các quốc gia, dân tộc, các tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục…trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục theo đuổi nhằm hướng đến xây dựng một thế thống giáo dục mở toàn diện cho con người và vì con người.

Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người, giáo dục mở

1. Đặt vấn đề

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành[5, tr.161-162]. Đó chính là mục tiêu, lý tưởng cao cả mà Người giành trọn cả cuộc đời của mình để tranh đấu. Và triết lý giáo dục tất cả cho con người và vì con người của Hồ Chí Minh là một trong những biểu hiện sinh động nhất cho những tư tưởng cách mạng và nhân văn ấy. Trên cơ sở đó, UNESCO - Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc đã tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới. Do đó, nghiên cứu, tìm hiểu về triết lý giáo dục tất cả cho con người và vì con người của Hồ Chí Minh là cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đang hướng tới xây dựng một nền giáo dục mở hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Triết lý giáo dục cho con người và vì con người của Hồ Chí Minh

* Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của giáo dục

Như chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được biết đến là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhà chính trị nổi tiếng của thế giới thế kỷ XX, một chính khách tầm cỡ quốc tế, mà còn là một nhà giáo (đúng hơn là thầy giáo Nguyễn Tất Thành), nhà sư phạm mẫu mực. Hồ Chí Minh đánh giá cao và hết sức coi trọng vị trí, vai trò của sự nghiệp giáo dục đối với sự hưng thịnh và phát triển của quốc gia, dân tộc và nhân loại. Hồ Chí Minh cho rằng “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, một dân tộc yếu là một dân tộc hèn” hay “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.”[9, tr.222]. Đây chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng “Tôn sự trọng đạo”, “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của truyền thống văn hóa, giáo dục Việt Nam. Tư tưởng của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với những giá trị, chuẩn mực của nền giáo dục hiện đại mà UNESCO chủ trương xây dựng. Tháng 3 – 1990, Hội nghị quốc tế về “Giáo dục cho mọi người” khẳng định vị trí và vai trò của giáo dục “Sự suy đồi về dân trí không tránh khỏi dẫn tới sự suy đồi về kinh tế - xã hội”. Năm 1994, UNESCO đưa ra tuyên bố: “Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản”[12, tr.83]. Có thể nói, tử tưởng và triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ biên giới quốc gia và vượt tầm thời đại.

* Phê phán mạnh mẽ nền giáo dục thực dân

Hồ Chí Minh lên án kịch liệt nền giáo dục thực dân phản động mà người Pháp duy trì ở Việt Nam “Mọi người bản xứ, vô luận là dân thuộc địa Pháp hay dân do Pháp bảo hộ, muốn sang chính quốc tiếp tục học tập, đều phải được phép của quan toàn quyền. Quan toàn quyền sẽ quyết định sau khi hỏi ý kiến quan thủ hiến và quan giám đốc Nha học chính. Làm cho u mê để thống trị, đó là phương pháp mà nhà cầm quyền ở các nước thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất.”[2, tr.154-155]. Đó là nền giáo dục giành cho thiểu số người trong xã hội, giáo dục nô dịch thực dân. Trong tác phẩm “Bản án chế độ  thực dân Pháp”, Hồ Chí Minh đã đưa ra một kết luận vô cùng xác đáng là “Làm cho dân ngũ để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các nước thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”[3, tr.98-99].

Tội ác của thực dân Pháp đối với nền giáo dục và văn hóa Việt Nam tiếp tục được Hồ Chí Minh vạch trần trước nhân dân Pháp và nhân dân toàn thế giới thể hiện trong rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết. Trong bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Người viết “…hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân”[4, tr.555] hay như trong bài “Chống nạn thất học” (tháng 10-1945), Hồ Chí Minh cho rằng “Khi xưa Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân. Chúng hạn chế mở trường học, chúng không muốn cho dân ta biết chữ để dễ lừa dối dân ta và bóc lột dân ta. Số người Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95 phần trăm, nghĩa là hầu hết người Việt Nam mù chữ. Như thế thì tiến bộ làm sao được?”[5, tr.36].

* Xây dựng một nền giáo dục mới cho con người và vì con người

Ngay từ năm 1925, trong bài “Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc”, Hồ Chí Minh đã chủ trương kiến thiết và xây dựng một nền giáo dục mới hiện đại, hội nhập, giành cho đông đảo quần chúng nhân dân; đặc biệt là tầng lớp dân nghèo trong xã hội “A, Thanh niên cộng sản tổ chức các câu lạc bộ, các lớp học, các tổ chức giáo dục nhằm phát triển ý thức xã hội trong thanh niên công nhân và thanh niên nông dân. Nó sẽ xuất bản các báo, tạp chí và sách nhằm mục đích bảo vệ và tuyên truyền. Sau hết, nó phải giúp dan chúng lớn tuổi mù chữ có được trình độ học vấn phổ thông. B, hệ thống giảng dậy sẽ được thay đổi sao cho con em người nghèo được đi học. C, chế độ học không mất tiền và chế độ tự quản cho sinh viên”[3, tr.409].

Đặc biệt, ngay sau khi vừa giành được độc lập, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh và Chính phủ đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay nhằm đối phó với “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”; trong đó có hai nhiệm vụ về giáo dục nhằm đối phó với “giặc dốt” nằm trong vấn đề thứ hai “Nạn dốt – Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trǎm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.” và vấn đề thứ tư “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở lên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH.”[5, tr.8-9]. Đó là một nền giáo dục của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – tức là nền giáo dục tất cả cho con người và vì con người, trái ngược hoàn toàn với nền giáo dục thực dân, phong kiến trước đây.

* Mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nền giáo dục cho con người và vì con người.

Mục tiêu của nền giáo dục mới là: lấy người dân làm trung tâm, tất cả cho con người và vì con người. Điều này được thể hiện làngay sau khi giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng về giáo dục như: Sắc lệnh thành lập nha Bình dân học vụ; Sắc lệnh quy định mọi làng phải có lớp bình dân; Sắc lệnh học chữ quốc ngữ không mất tiền; Sắc lệnh thành lập Ban Đại học văn khoa; Sắc lệnh thành lập Hội đống cố vấn học chính…nhằm khẳng định mục đích cao cả của một nền giáo dục mới là tất cả cho con người và vì con người “Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng của mọi người để phụng sự đoàn thể và góp phần vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại[12, tr.53]. Đó là một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại và hội nhập sâu rộng, không có sự phân biệt về quốc gia, dân tộc, tôn giáo, giai cấp, địa vị xã hội, nguồn gốc xuất thân; mọi người đều được tạo điều kiện, cơ hội và môi trường bình đẳng trong học tập và giáo dục. Theo Hồ Chí Minh “Nền giáo dục mới là nền giáo dục duy nhất chung cho toàn thể nhân dân”[12, tr.53]. Đó là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa cho con người và vì con người “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà.”[8, tr.80]. Trong “Lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (9-1949), Hồ Chí Minh viết: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”.[6, tr.684]. Quan điểm này, tiếp tục được Hồ Chí Minh khẳng định trong buổi nói chuyện với học sinh các trường trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trương Vương ở Hà Nội, Người nói: “Bây giờ phải học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức…Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh”[7, tr.398-399].

Nhiệm vụ của nền giáo dục cho con người và vì con người theo Hồ Chí Minh là:

Một là, phải đặt lợi ích của nhân dân, quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng ngày 31-10-1955, Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ cho nền giáo dục mới là: “Trước hết phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng của giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng: dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống của nhân dân. Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân”[8, tr.80]. Theo Hồ Chí Minh, ngành giáo dục có sứ mệnh lịch sử cao cả và vẻ vang là đào tạo ra một thế hệ công dân Việt Nam mới có tinh thần yêu nước, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường “vì vậy, cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”[6; tr.102] và phụng sự nhân dân, Tổ quốc “Các cô các chú có nhiệm vụ rất quan trọng: bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này. Làm tốt thì thế hệ sau này có ảnh hưởng tốt. Làm không tốt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau. Mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới.”[8, tr.183]. Tâm nguyện cả đời của Người là không những giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam mà còn là “Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái”[12, tr.54].

Hai là, phải nêu cao tinh thần tự học, học tập suốt đời. Người nói “Học hỏi là một việc tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi”[8, tr.215]. Nói về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tự học và học tập suốt đời, Người có đồng quan điểm “Học, học nữa, học mãi” của Lênin, "Học không biết chán, dạy người không biết mỏi" của Khổng Tử, khi cho rằng “Học tập là một công việc suốt đời”. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với triết lý giáo dục thế kỷ XXI mà UNESCO đưa ra là “Học suốt đời” (Life long learning). Cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học. Trong bài nói chuyện với những sinh viên ưu tú của Trường Đại học thành phố Băng Đung (Inđônêxia), Người đã thẳng thắn chia sẻ “Khi còn trẻ tôi không có dịp đến trường học. Tôi đã đi du lịch và để làm việc, đó là trường đại học của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội. Nó đã dậy cho tôi cách yêu, cách ghét, yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình và căm ghét áp bức, ích kỷ v.v…”[12, tr.74].

Mặt khác, theo Hồ Chí Minh tự học phải là một quá trình lâu dài và gian khổ, học tập suốt đời, Người nói “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”[10, tr.465].Nhờ quá trình tự học mà Hồ Chí Minh trở thành nhà lãnh đạo tài năng và xuất chúng của nhân dân Việt Nam và thế giới.

Ba là, phải có niềm tin vào con người và sức mạnh của giáo dục. Hồ Chí Minh luôn có một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, trí tuệ và bản lĩnh của con người. Năm 1943, Trong bài thơ “Nửa đêm”, Người viết:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền

Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn

                  Phần nhiều do giáo dục mà nên”[4, tr.383]

Trong đó, Người đặc biệt tin tưởng vào thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước. Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng đắn khi cho rằng “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là muần xuân của xã hội”[12, tr.144] hay  “Non sông Việt Nam có thể trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”[5, tr.33].

 Bốn là, ngành giáo dục phải có chế độ đãi ngộ và tuyển dụng nhân tài. Hồ Chí Minh được biết đến là người rất thành công trong việc sử dụng và trọng dụng nhân tài. Trong bài “Nhân tài và kiến quốc” Người khẳng định “…kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi. Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng chúng ta khéo lựa chon, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều. Chúng ta cần nhất bây giờ là: kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiết giáo dục”[5, tr.99]. Nhờ đó, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyển chọn được một đội ngũ đông đảo các nhân sỹ, trí thức tài năng cho đất nước ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có giáo dục như: Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu…

Năm là, phải coi trọng đào tạo tài năng và đức độ, vừa hồng, vừa chuyên, kết hợp lý luận với thực tiễn hướng tới hoàn thiện và phát triển toàn diện nhân cách người học “Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”[8, tr.183-184]. Theo Hồ Chí Minh một nền giáo dục cho con người và vì con người phải là một nền giáo dục và phát triển toàn diện con người về mọi mặt, trong đó có tài năng và đức độ. Trong bài “Nói chuyện với học sinh và giáo viên Trường phổ thông cấp III Chu Văn An (Hà Nội) ngày 31-12-1958, Người nói “ Trường học của ta là trường học xã hội chủ nghĩa. Trường học xã hội chủ nghĩa là như thế nào? Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động; lý luận đi với thực hành; cần cù đi với tiết kiệm”[9, tr.285-286]. Theo Hồ Chí Minh để có xã hội chủ nghĩa và nhà trường xã hội chủ nghĩa (nhà trường cho con người và vì con người) thì phải hội tụ được các yếu tố sau: “Muốn có xã hội chủ nghĩa, phải có người xã hội chủ nghĩa. Muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa trái hẳn với cá nhân chủ nghĩa. Cái gì không phải xã hội chủ nghĩa là cá nhân chủ nghĩa. Cá nhân chủ nghĩa đẻ ra hàng trăm tính xấu như siêng ăn, biếng làm, kèn cựa, nghĩ đến mình mà không nghĩ đến đồng bào, tham danh lợi, địa vị,vv..”. Từ đó, Người đặt ra yêu cầu đối với toàn ngành giáo dục là “Các thầy, các cô giáo, các cháu cần luôn luôn bồi dưỡng tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đấu tranh tiêu diệt cá nhân chủ nghĩa”[9, tr.295-296].

Sáu là, phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục từ gia đình, giáo dục từ nhà trường và giáo dục từ xã hội “…Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”[8, tr.394]. Đây là yếu tố cần thiết và phải có ở bất kỳ một nền giáo dục nào trên thế giới, đặc biệt là đối với hệ thống giáo dục mở như hiện nay.

Bảy là, phát huy truyền thống đoàn kết, đổi mới, sáng tạo; tôn trọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân. Người cho rằng “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó”[11, tr.403-404]. Tâm nguyện của Người là hướng tới xây dựng một nền giáo dục mới, tiên tiến, hiện đại, hội nhập với thế giới. Do đó, Nguời hết sức đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo “Xóa bỏ lối học nhồi sọ, hình thức, chú trọng phần thực học, phần học về chuyên môn nghề nghiệp chiếm một địa vị quan trọng, hết sức đề cao tinh thần khoa học, nhằm giúp học sinh có lối nhận thức khoa học, phát triển óc phê bình, óc phân tích và tổng hợp, tinh thần sáng tạo và óc thực tế”[12, tr.53].

Mục đích cao nhất mà một nền giáo dục hướng đến theo Hồ Chí Minh là một nền giáo dục của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân (suy rộng ra là tất cả cho con người và vì con người). Điều này được thể hiện là ngay sau khi giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã tổ chức thành lập một trường đại học giành cho nhân dân mang tên Trường Đại học Nhân dân Việt Nam. Trong lễ khai mạc của nhà trường, Người nói “Trường này là Trường đại học nhân dân, các cháu học với các thầy giáo, đồng thời phải học nhân dân”[7, tr.456-457]. Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng thành công nền giáo dục của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thẳng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”[1, tr.1166].

2.2. Vận dụng triết lý giáo dục cho con người và vì con người của Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống giáo dục mở hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu triết lý giáo dục tất cả cho con người và vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm vận dụng vào trong xây dựng hệ thống giáo dục mở hiện nay.

Thứ nhất, hệ thống giáo dục mở phải hướng đến con người, lấy con người làm trung tâm của mô hình, tất cả là cho con người và vì con người.

Thứ hai, hệ thống giáo dục mở phải xác định được hệ giá trị cốt lõi, cơ bản hướng đến là gì? Đó là phải đào tạo được một thế hệ công dân Việt Nam có tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, yêu chuộng hòa bình, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân và nhân loại; phát triển toàn diện cả tài năng và đức độ, vừa hồng vừa chuyên; biết gắn lý luận với thực tiễn….

Trong bản Di chúc viết năm 1965, Người căn dặn “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa hông, vừa chuyên”[1, tr.1158].

Thứ ba, hệ thống giáo dục mở cần đề cao và phát huy tinh thần tự học, tự đổi mới và sáng tạo không ngừng; phương pháp làm việc khoa học, độc lập. Trong bản Di chúc viết năm 1968, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của sự nghiệp đổi mới giáo dục “Sửa đổi chế độ giáo dục cho hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học, nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc…”[1, tr.1166].

Thứ tư, để xây dựng được hệ thống giáo dục mở cần phải có chính sách thu hút, tuyển dụng và trọng dụng nhân tài. Đặc biệt là trong bối cảnh nạn chảy máu chất xám đang diễn ra trầm trọng trong ngành giáo dục như hiện nay ở Việt Nam.

Thứ năm, trong xây dựng hệ thống giáo dục mở cần kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa 3 thành tố được coi là trụ cột của giáo dục là: giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội nhưng trong hoàn cảnh đất nước và thời đại mới.

Thứ sáu, trong xây dựng hệ thống giáo dục mở cần phát huy truyền thống đoàn kết, sức mạnh tập thể; tinh thần và trí tuệ của nhân dân “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” hay “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, “Nước lấy dân làm gốc”. Bởi lẽ, mục đích cuối cùng mà hệ thống giáo dục mở hướng tới là tất cả mọi người trong xã hội – tức nhân dân. Do đó, thành công hay thất bại chính là ở DÂN.

Thứ bảy, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói chung, trong đó có triết lý giáo dục cho con người và vì con người là tài sản quý giá của Đảng và dân tộc ta. Do đó trong quá trình triển khai xây dựng hệ thống giáo dục mở ở Việt Nam phải trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo những triết lý và tư tưởng đó vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước và thời đại. Hệ thống giáo dục mở đó dù có hiện đại đến đâu cũng phải mang bản sắc, bản lĩnh, trí tuệ và cốt cách Việt Nam.

3. Kết luận

Như vậy, hơn 70 năm đã qua nhưng những tư tưởng và triết lý giáo dục, trong đó có triết lý giáo dục tất cả cho con người và vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên vẹn giá trị và sức sống trường tồn theo thời gian. Mục tiêu, lý tưởng và con đường trong triết lý giáo dục mà Hồ Chí Minh hướng đến hoàn toàn phù hợp với xu thế và xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại; trong đó có việc xây dựng hệ thống giáo dục mở giành cho mọi người trong toàn xã hội mà thế giới và Việt Nam đang triển khai xây dựng. Do đó, sứ mệnh và nhiệm vụ của chúng ta là nghiên cứu, bảo vệ, kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng và triết lý Hồ Chí Minh về giáo dục trong xây dựng hệ thống giáo dục mở ở Việt Nam hiện nay.

TÀI LIỆU  THAM KHẢO

[1] Danh nhân Hồ Chí Minh, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2000, tr.922.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[9] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[10] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[11] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[12] Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2007.

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN GIÁO DỤC DÂN CHỦ HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU ĐÀO TẠO NHỮNG CON NGƯỜI PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN, CÓ NĂNG LỰC TỔ CHỨC VÀ LÀM CHỦ CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ MỚI

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN GIÁO DỤC DÂN CHỦ HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU ĐÀO TẠO NHỮNG CON NGƯỜI PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN, CÓ NĂNG LỰC TỔ CHỨC VÀ LÀM CHỦ CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ MỚI

Th.S Khổng Minh Ngọc Mai

Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh là nhằm nâng cao dân trí để xây dựng một xã hội dân chủ vì con người, cho con người. Nâng cao dân trí là một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước dân chủ. Bởi lẽ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong bài “Chống nạn thất học” đăng trên báo cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”.

Trong một chế độ dân chủ, mục đích của giáo dục chính là đào tạo nên những con người có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới. Trong bài báo “Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng”, Hồ Chí Minh đã nhắc: “Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà”. Chính vì là người lao động làm chủ nước nhà, nên “muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ”, và Người đã chỉ ra điều kiện: “Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới- trước hết là tổ chức nền sản xuất mới...”. Với mục tiêu của việc học tập như vậy, Người yêu cầu người dạy và người học phải có thái độ đúng đắn, nghiêm túc và chí tiến thủ trong học tập, với tinh thần “học không biết chán, dạy không biết mỏi” để có làm chủ bản thân “chúng ta làm chủ cuộc sống mới do chúng ta xây dựng lên. Chúng ta làm chủ tương lai của mình và con cháu mình”. Mục tiêu của nền giáo dục dân chủ mới Việt Nam được Hồ Chí Minh nêu rõ là: Đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, những lớp người có đủ đức, tài, vừa hồng, vừa chuyên, để có thể đảm nhận tốt vai trò của người công dân trong quá trình tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu đó, Hồ Chí Minh khẳng định mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ phải được giáo dục một cách toàn diện: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”[1]. Do vậy, học để có đủ năng lực làm chủ không những là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi người công dân trong chế độ dân chủ mới.

Hồ Chí Minh khi đề cập đến mục đích của nền giáo dục dân chủ mới đã nhiều lần khẳng đinh đó là nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực vốn có của con người. Trong “Thư gửi học sinh” tháng 9/1945, Bác đã khẳng định: “Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”[2]. Những con người được phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của bản thân đó sẽ trở thành những con người toàn diện, con người mới, khác hoàn toàn với nền giáo dục mà chủ nghĩa thực dân đã thực thi ở Việt Nam trước đây.

Nền giáo dục dân chủ mới mà Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng là nền giáo dục nhằm đào tạo nên những con người “hoàn toàn” để “làm người”, để “phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân”, phục vụ “Tổ quốc và nhân loại”. Theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác- Lênin, mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là giáo dục- đào tạo con người phát triển toàn diện. Lênin đã chỉ rõ: “Người ta sẽ chuyển sang việc huấn luyện, giáo dục và đào tạo những con người phát triển về mọi mặt, được chuẩn bị về mọi mặt và biết làm việc. Đó là cái đích của chủ nghĩa cộng sản đi tới, nhưng phải trải qua một giai đoạn lâu dài”[3]. Mác - Ăngghen cũng đã chỉ ra mô hình về con người phát triển toàn diện của xã hội tương lai: là con người phát triển về cả trí tuệ, đạo đức, sức khỏe, lao động và thẩm mỹ; hài hòa về thể chất và tâm hồn, hài hòa giữa cuộc sống cá nhân và xã hội, giữa cái chung và cái riêng. Phát triển toàn diện nhân cách là phát triển hết khả năng, đặc tính vốn có của từng cá nhân; chứ không phải là làm cho tất cả mọi người đều hoàn toàn giống nhau, đều làm giỏi tất cả mọi việc như nhau. Kế thừa truyền thống giáo dục của dân tộc, tiếp thu tinh hoa tư tưởng giáo dục của nhân loại, đặc biệt là quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm khẳng định vị trí, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước nói chung và đối với mỗi người nói riêng.          

Nền giáo dục dân chủ mới là nền giáo dục tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng của mọi người để phụng sự đoàn thể và góp phần vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại. Từ thực trạng nền văn hóa, giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Người vạch trần chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị của chúng. Dùng ngòi bút với lời lẽ sắc bén để vạch trần bản chất của cái gọi là “khai hóa văn minh” của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong chế độ cũ, những người đến trường học, được “đào tạo nên những tay sai làm tôi tớ cho bọn thực dân”; những người không đến trường lớp thì bị bọn thực dân đầu độc bằng các thói hư, tật xấu như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện và các tệ nạn xã hội. Chính vì thế, phải “ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ”[4]. Không chỉ lên án, phê phán, vạch trần bản chất nền giáo dục của chủ nghĩa thực dân, mà còn thông qua đó, Hồ Chí Minh muốn xây dựng một nền giáo dục mới và xây dựng một xã hội mới. Với Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa. Để xây dựng chế độ dân chủ mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến chiến lược trồng người mà biện pháp quan trọng nhất là giáo dục.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, cũng như quan niệm của Người về vai trò của giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ... Khi nhìn nhận vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách của con người, Người khẳng định:

            “Ngủ thì ai cũng như lương thiện,

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,

Phần nhiều do giáo dục mà nên.”[5]

Hồ Chí Minh luôn coi giáo dục có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc giáo dục tri thức, học vấn mà còn góp phần hình thành nên nhân cách, phẩm chất đạo đức của mỗi con người. Người nói về mục đích hướng tới của giáo dục: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”[6].

            Nền giáo dục Người chủ trương xây dựng là nền giáo dục nhằm xóa bỏ những quan niệm coi khinh lao động chân tay, chuộng bằng cấp, ham vinh hoa phú quý, coi “muôn nghề đều là thấp kém, chỉ nghề đọc sách là cao”. Nền giáo dục mới là nền giáo dục “phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới”[7].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Anh (2013) (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Phan Ngọc Liên- Nguyên An (2003): Hồ Chí Minh với giáo dục- đào tạo, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội.

3. Võ Văn Lộc (2011): Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin (1976): Bàn về giáo dục, Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Tập 3, 4, 5, 7, 9, 10, 12, 13, 15, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

 

 



[1] Hồ Chí Minh, Sđd, T. 12, tr. 467.

[2] Hồ Chí Minh, Sđd, T. 4, tr. 34.

[3] Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin: Bàn về giáo dục, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 163

[4] Hồ Chí Minh, Sđd, T. 10, tr. 185.

[5] Hồ Chí Minh, Sđd, T.3, tr. 413.

[6] Hồ Chí Minh, Sđd, T.15, tr. 672.

[7] Hồ Chí Minh, Sđd, T.10, tr. 344.

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY

 

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY

Người viết: Đào Thị Thúy Loan

          Hiện nay, giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên các trường ĐH, CĐ là một nội dung quan trọng của hoạt động giáo dục và đào tạo trong nhà trường. Đó là quá trình tác động liên tục, có mục đích, có kế hoạch của các cấp ủy, các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, đội ngũ nhà giáo và các tổ chức đoàn thể trong trường học đến đối tượng được giáo dục là sinh viên nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và những tư tưởng tiên tiến, cách mạng, khoa học. Qua đó, hình thành ở sinh viên thế giới quan, phương pháp luận khoa học, niềm tin cộng sản; nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng; phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo, đấu tranh chống các biểu hiện tư tưởng phản động, sai trái, tiêu cực, góp phần xây dựng môi trường văn hóa giáo dục lành mạnh, xây dựng và hoàn thiện phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.

1. Các yếu tố tác động trực tiếp đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên hiện nay.

Hội nghị Trung ương 8 khóa XI nêu bật một trong những quan điểm chỉ đạo trong đổi mới giáo dục là: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.

Luật giáo dục đại học năm 2012 xác định cụ thể mục tiêu chung của giáo dục đại học nước ta là: “Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và hội nhập quốc tế; đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe, có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc, có ý thức phục vụ nhân dân”.

Chúng ta có thể thấy rõ các chủ trương và định hướng lớn nêu trên tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong phát triển văn hóa, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục đại học nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Trong tư tưởng chính trị sinh viên hiện nay đã và đang có sự tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ những biến động phức tạp cả trong và ngoài nước. Điển hình như: Sau sự kiện Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới tạm lâm vào thoái trào; CNTB đã có những điều chỉnh để thích nghi và xác lập trật tự thế giới mới có lợi cho mình. Đây là nguyên nhân làm cho sinh viên băn khoăn, dao động trong lĩnh hội kiến thức lý luận Mác – Lênin. Cùng với những tác động tích cực, mặt trái của quá trình toàn cầu hóa đã và đang là nguyên nhân tạo ra những mơ hồ, ảo tưởng, xa vời các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc. Việc gia tăng hoạt động tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn cùng với nhiều biến đổi chính trị phức tạp dễ dẫn đến tâm trạng  hoang mang, dao động trong sinh viên.

Tình hình trong nước, dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường đã, đang trực tiếp tác động và hình thành lối sống hưởng thụ, cá nhân, vị kỷ, coi trọng giá trị vật chất và lợi ích trước mắt, ít quan tâm đến chính trị, xã hội và lợi ích lâu dài. Chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với nước ta được tiến hành dưới vỏ bọc, phương thức và thủ đoạn mới, đẩy mạnh “phi chính trị hóa giáo dục và đào tạo” tạo quá trình tự diễn biến trong thế hệ trẻ Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song so với yêu cầu thực tiễn đặt ra, giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều nơi còn đơn giản, chủ quan, thiếu tích cực; nội dung tuyên truyền, giáo dục đơn điệu, nghèo nàn, hình thức; phương pháp giáo dục chưa phong phú, chưa phù hợp với đặc điểm, trình độ, tâm lý, nhu cầu, lợi ích của tuổi trẻ; công tác giáo dục, tuyên truyền chưa góp phần tạo ra phong trào quần chúng hành động cách mạng thật sự sôi nổi, mạnh mẽ và liên tục. Trước tình hình đó, vấn đề tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên càng trở nên bức thiết đòi hỏi các tổ chức Đảng, tổ chức Đoàn và toàn bộ hệ thống chính trị trong nhà trường phải có nhận thức sâu sắc, thái độ tích cực; chủ động triển khai đồng bồ toàn diện các nội dung biện pháp thiết thực, góp phần xây dựng và củng cố vững chắc tư tưởng, môi trường văn hóa, giáo dục lành mạnh cho sinh viên.

2. Tăng cường giáo dục chính trị cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng hiện nay.

Đây là việc làm có ý nghĩa to lớn làm cho sinh viên có thái độ tích cực trong nhận thức, nồng nhiệt trong tình cảm, mãnh liệt trong ý chí. Tuy nhiên, để đạt được điều đó đòi hỏi phải phát huy vai trò của các cấp ủy, tổ chức Đảng, tổ chức đoàn thể, đội ngũ nhà giáo và CB, ĐV trong các nhà trường với tư cách là chủ thể của các hoạt động giáo dục, chủ động, linh hoạt trong việc xác định nội dung và tiến hành đồng bộ các hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp. Để triển khai có hiệu quả nội dung giáo dục cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng làm công tác tư tưởng, phải đổi mới phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với đặc điểm của sinh viên. Chỉ có như vậy công tác giáo dục chính trị tư tưởng mới thực sự có ý nghĩa đối với họ. Trong điều kiện thực tiễn hiện nay, cần chỉ động thực hiện một số hình thức, phương pháp cơ bản sau đây:

2.1. Thông qua các môn học theo chương trình quy định.

Giáo dục chính trị, tư tưởng thông qua các môn học như: những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của ĐCS Việt Nam...là loại hình phổ biến, giữ vai trò chủ đạo trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay. Vì vậy, nâng cao chất lượng các môn lý luận chính trị có ý nghĩa quyết định đến nhận thức chính trị, xây dựng lý tưởng, hoài bão cách mạng cho sinh viên. Để nâng cao chất lượng các môn học này đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp khác nhau, trong đó cần tập trung vào nâng cao chất lượng dạy – học. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảng viên là phải hết sức toàn diện, vừa có kiến thức chuyên sâu, phương pháp tác phong sư phạm khoa học, vừa phải coi trọng đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời giảng viên phải có đạo đức chuẩn mực, có sức lan tỏa và ảnh hưởng lớn đối với sinh viên. Thực tiễn hiện nay mặc dù những môn học này rất quan trọng nhưng lại có hiện tượng một bộ phận không nhỏ sinh viên ít quan tâm chú trọng, nhiều người trong số họ quan niệm đây là những môn học khô khan, khó học, khó tiếp thu, môn học phụ chỉ có tính chất “điều kiện”. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nhiều sinh viên có biểu hiện học qua loa, đại khái, học để đối phó với các kỳ thi…Để khắc phục tình trạng trên, một mặt chúng ta phải làm chuyển biến nhận thức trách nhiệm của sinh viên, mặt khác các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục có thẩm quyền phải nghiên cứu đổi mới quy chế đánh giá, xếp loại sinh viên qua việc kiểm tra đánh giá các môn lý luận chính trị tương ứng với vai trò của nó.

2.2. Giáo dục thông qua dư luận xã hội.

Đặc điểm và quy luật của giáo dục chính trị tư tưởng là tạo ra dư luận, bằng dư luận và thông qua dư luận xã hội lành mạnh có thể điều chỉnh được nhận thức, thái độ, hành vi của mỗi con người. Vì vậy việc xây dựng môi trường lành mạnh để giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên là một trong những giải pháp quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Trước mắt nên tập trung thể chế hóa các nội quy, quy chế về xây dựng văn hóa học đường gắn với những yêu cầu chuẩn mực cụ thể đối với sinh viên ở từng ngành nghề đào tạo; xây dựng và thiết lập quan hệ bình đẳng, dân chủ kỷ cương trong hệ thống các cơ quan, tổ chức; đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện nhận thức lệch lạc, hành vi sai trái, tiêu cực, không để các tệ nạn xã hội xâm nhập vào các trường học. Phát huy vai trò của những người có uy tín cao trong các nhà trường, mà trước hết là đội ngũ giảng viên, CB, ĐV, đội ngũ CB Đoàn, CB lớp, những sinh viên ưu tú nhằm điều chỉnh dư luận xã hội, điều chỉnh nhận thức, thái độ hành vi của sinh viên. Phát động và đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng gắn với xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt; quan tâm giáo dục và phát huy truyền thống nhà trường, phát huy truyền thống cách mạng của Đảng, các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và truyền thống văn  hóa riêng của từng địa phương.

2.3. Giáo dục chính trị, tư tưởng thông qua các loại hình văn hóa, văn học, nghệ thuật và sử dụng hợp lý các phương tiện thông tin đại chúng vào việc định hướng giá trị và giác ngộ lý tưởng cách mạng cho sinh viên.

Thường xuyên duy trì thực hiện việc thông tin, nói chuyện thời sự để phổ biến, quán triệt kịp thời những vấn đề chính trị - xã hội nổi bật giúp đinh hướng nhận thức, hướng dẫn hành động, vạch trần những âm mưu và hành động xuyên tạc, phản động, không để sinh viên măc mưu kẻ xấu; tăng cường tổ chức các hội thi, tọa đàm, diễn đàn và các hình thức giao lưu văn hóa của sinh viên để phục vụ  cho công tác giáo dục chính trị tư tưửng. Khai thác và sử dụng hợp lý mạng internet, các buổi truyền thanh nội bộ; thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền cổ động nhân các sự kiện chính trị và ngày kỷ niệm lớn; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với các cuộc vận động của tuổi trẻ trong các nhà trường.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên không thể tiến hành theo kiểu chủ quan, áp đặt mà phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiều nội dung, hình thức, biện pháp, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Do đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải đi đôi với sự gương mẫu trong đội ngũ nhà giáo, CB, ĐV, CB các tổ chức đoàn thể ở các cấp; nhất quán giữa chủ trương với biện pháp chỉ đạo, giữa nói và làm, gương mẫu trong tư cách cá nhân và trách nhiệm đối với công việc.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên các trường ĐH, CĐ là một nội dung quan trọng của hoạt động giáo dục và đào tạo. Đó là quá trình tác động liên tục, có mục đích,có kế hoạch của các cấp ủy, các tổ chức Đảng, CB, ĐV, đội ngũ nhà giáo và các tổ chức đoàn thể trong các trường. Do đó, các cấp ủy, các tổ chức Đảng, CB, ĐV, đội ngũ nhà giáo và các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục quan tâm hơn nữa tới một số nội dung: tiếp tục quán triệt và thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, kết luận của Trung ương và Thành ủy về công tác xây dựng Đảng. Quan tâm công tác phát triển ĐV, đặc biệt là trong học sinh, sinh viên, giảng viên trẻ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng trực thuộc. Trong công tác chuyên môn cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; thực hiện tốt tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2019 – 2020 theo phương án mới của Bộ giáo dục và đào tạo; mở rộng, nâng cao hiệu quả công tác về hợp tác quốc tế trong đào tạo, NCKH và đào tạo đội ngũ giảng viên và sinh viên; động viên đội ngũ trí thức và sinh viên hăng hái tham gia nghiên cứu khoa học. Tiếp tục làm tốt vai trò là cầu nối giữa Đảng với học sinh, sinh viên trong cả nước, tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội, phát huy tiềm năng của lực lượng trí thức, góp phần xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng văn minh hiện đại.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban chấp hành Trung ương (khóa XI), Nghị quyết số 29-NQ/TƯ ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

2. Ban chấp hành Trung ương (khóa XI), Nghị quyết số 33-NQ/TƯ ngày 09/06/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

3. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

4. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.