TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ VỮNG MẠNH, LÀM NÒNG CỐT BẢO VỆ TỔ QUỐC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ VỮNG MẠNH, LÀM NÒNG CỐT BẢO VỆ TỔ QUỐC

Th.s. Nguyễn Hải Minh

Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa đang là xu thế chung cho sự phát triển của các quốc gia trên thế giới trong đó không ngoại trừ Việt Nam. Cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, đòi hỏi chúng ta luôn luôn cảnh giác và  bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta, đồng thời là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cần được quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Quốc phòng là công việc giữ nước của quốc gia. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, từng bước hiện đại để đủ sức giữ vững hoà bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Xây dựng nền an ninh nhân dân vững mạnh là nền an ninh nhân dân có đủ sức đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. 

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tuy hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ tiếp tục có những biến động phức tạp, khó lường; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tranh chấp tài nguyên, chủ quyền lãnh thổ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ có chiều hướng gia tăng. Các nước lớn có sự điều chỉnh chiến lược, vừa cạnh tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức cả bên trong và bên ngoài; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ trên Biển Đông diễn ra gay gắt, lâu dài, phức tạp hơn. Ở trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong bối cảnh đó, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước, phải không ngừng tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc;

Đứng trước những yêu cầu đòi hỏi đó, Trường Đại học Tây Bắc thực hiện quan điểm chủ trương của Đảng về kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh trên cả phương diện tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận và hoạt động thực tiễn, được đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh sẽ đáp ứng mọi yêu cầu của phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; đồng thời tạo thuận lợi cho sự phát triển nền an ninh nhân dân. Ngược lại, nền an ninh nhân dân vững chắc là điều kiện để tăng cường sức mạnh quốc phòng, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn gây mất an ninh, ổn định chính trị – xã hội của các thế lực thù địch.

Thực hiện kế hoạch Quân sự - Quốc phòng năm 2019 của Ban chỉ huy Quân sự Trường Đại học Tây Bắc; Căn cứ đề nghị của Ban chỉ huy Quân sự của nhà trường;

Quyết định kiện toàn Trung đội súng máy phòng không 14,5mm  phối hợp với ban chỉ huy Quân sự Sơn La, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Sơn La tổ chức huấn luyện chính trị, quân sự năm 2019 đối với trung đội tự vệ súng máy 14,5mm.

THỰC TẾ GIÁO DỤC CÔNG DÂN - HOẠT ĐỘNG ĐẦY Ý NGHĨA ĐỐI VỚI SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

THỰC TẾ GIÁO DỤC CÔNG DÂN -  HOẠT ĐỘNG ĐẦY Ý NGHĨA ĐỐI VỚI SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Th.S.  Nguyễn Thị Hương

Giảng viên khoa Lý luận Chính trị

        

             Thực hiện kế hoạch năm học 2018 - 2019 đã được Nhà trường phê duyệt, từ ngày 01/04/2019 đến ngày 07/04/2019 tập thể lớp K58A ĐH Giáo dục chính trị được sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Hương và ThS. Nguyễn Thanh Thủy đã tiến hành chuyến thực tế tại các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng.

          Trong 7 ngày Đoàn đã thực hiện một hành trình dài và đầy ý nghĩa. Địa điểm đầu tiên Đoàn đến tham quan là thị xã Cửa Lò. 37 sinh viên lớp K58 A ĐH GDCT đa phần là con em đồng bào dân tộc Tây Bắc và có 8 em là du học sinh Lào hầu hết các em đều chưa một lần được ngắm biển. Đến với Cửa Lò các em được nghiên cứu về cách làm kinh tế của ngư dân, được đùa giỡn với những con sóng biển khiến tình yêu đối với biển đảo quê hương, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo trở nên mãnh liệt hơn.

Tại Nghệ An Đoàn tới thăm quan, học tập và tìm hiểu thân thế sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu di tích lịch sử Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An. Qua môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh các em đã được tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng khi trực tiếp tới đây nghe hướng dẫn viên giới thiệu và kể về gia đình Bác và hai lần Người về thăm quê không ít em đã rơi nước mắt cảm động vì những tình cảm Bác dành cho quê hương, đất nước, sự hy sinh tình riêng vì việc nước mà Bác đã làm.

Tại Hà Tĩnh, Đoàn tới nghe báo cáo chuyên đề và thành kính dâng hương tại khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc nơi 10 nữ thanh niên xung phong trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc bị trúng bom của Không lực Hoa Kỳ đã hy sinh anh dũng khi tuổi mới đôi mươi.

Di chuyển vào Quảng Bình, Đoàn tới dâng hương tại khu mộ đại tướng Võ Nguyên Giáp –  vị đại tướng đầu tiên, người chỉ huy đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mặc dù đã nghiên cứu về sự khốc liệt của cuộc chiến 81 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị nhưng khi trực tiếp tới thăm khu di tích lịch sử Nghĩa trang liệt sỹ Thành cổ Đoàn chúng tôi không khỏi bùi ngùi xúc động khi nghe hướng dẫn viên giới thiệu chi tiết về những chiến công oanh liệt đã diễn ra tại đây, nghe tâm thư mà những người chiến sỹ dự cảm được cái chết của mình đã gửi lại gia đình, người thân và cả những vần thơ của những người đồng đội khi tới thăm Thành cổ đã viết:

“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi.

Cho đồng đội tôi còn nằm yên dưới cỏ.

Trời Thành cổ trong xanh và lộng gió.

Ru mãi bài ca bất tử đến vô cùng...”

Đến với thành phố Huế - thành phố di sản, Đoàn đã tới thăm Đại Nội, Lăng Khải Định, Đàn tế trời đất Nam Giao, Chùa Thiên Mụ giúp các bạn sinh viên đặc biệt là du học sinh Lào hiểu hơn về lịch sử nước Việt dưới thời các vị vua nhà Nguyễn.

Các em sinh viên đã được biết đến với xứ Huế mộng mơ qua những vần thơ, những ca khúc của những nhà thơ, nhạc sĩ nổi tiếng nhưng khi các em tới đây được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thành phố Huế nằm bên dòng Hương giang, nét trầm tư của Kinh thành xưa thì chính các em cũng trở thành những nhà thơ với những vần thơ hết sức lãng mạn.

Ấn tượng để lại sâu đậm nhất trong chuyến đi đối với các em sinh viên có lẽ là khi đến với thành phố Đà Nẵng nơi đã được bình chọn là 1 trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á năm 2013. Các em đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một thành phố không chỉ lung linh sắc màu bên dòng sông Hàn thơ mộng mà còn là thành phố trẻ rất năng động và phát triển, với điểm nhấn sắc nét là hình ảnh của những cây cầu lớn được thiết kế vô cùng độc đáo: cầu Rồng, cầu Xoay, cầu Thuận Phước.

Đoàn đến thăm quan Chùa Linh Ứng ở Bán đảo Sơn Trà,ngôi chùa có tượng Phật Quan Thế Âm cao nhất Việt Nam, nơi được xem là cõi Phật giữa chốn trần gian. Trên con đường từ trung tâm thành phố ra bán đảo Sơn Trà, Đoàn được đi trên cầu Thuận Phước - cây cầu nằm vắt ngang đúng nơi con sông Hàn đổ về với biển. Từ trên cầu, phóng tầm mắt về bốn phía mới thực sự cảm nhận được những nét đẹp của thiên nhiên, biển cả và sức sống mạnh mẽ tràn đầy của thành phố. 

Tới thăm làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước chúng tôi không chỉ được thả hồn vào thiên nhiên nên thơ mà còn được chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc do những đôi bàn tay khéo léo của những người nghệ nhân nơi đây chế tác từ những tảng đá trên Ngũ Hành Sơn.

Sau một hành trình dài đầy ý nghĩa Đoàn chúng tôi trở về với mái trường thân thương Đại học Tây Bắc. Qua thực tế trực tiếp quan sát các di vật, tư liệu lịch sử, nghe các báo cáo chuyên đề đã mang lại cho các em sinh viên cơ hội để hệ thống, củng cố các kiến thức lý thuyết đã tiếp thu trên lớp, tăng thêm vốn hiểu biết thực tế để vận dụng trong quá trình học tập và công tác sau này.

Một số hình ảnh của Đoàn tại các địa danh lịch sử

 

Chỉ số phát triển con người ở Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình giai đoạn 2008-2012

Chỉ số phát triển con người ở Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình giai đoạn 2008-2012

 Th.s Đỗ Huyền Trang

 UNDP (1990) đã định nghĩa: Phát triển con người là quá trình mở rộng sự lựa chọn cho con người. Điều quan trọng nhất của phạm vi sự lựa chọn rộng lớn đó là để con người sống một cuộc sống dài lâu, khỏe mạnh, được giáo dục và được tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho một cuộc sống cao. Hiện nay việc đo lường và phát triển con người được thực hiện dựa trên hai chỉ số quan trọng - đó là chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số phát triển giới GDI. Cả hai chỉ số HDI và GDI đều nằm trong khoảng 0 và 1, càng gần đến 1 thì mức độ phát triển con người và liên quan đến giới càng cao.

Chỉ số phát triển con người (Viết tắt theo tiếng Anh là HDI - Human development index)là thước đo tổng hợp về sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay vùng lãnh thổ trên các phương diện thu nhập (thể hiện qua GDP bình quân đầu người); tri thức (thể hiện qua chỉ số học vấn) và sức khoẻ (thể hiện qua tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh) của con người. HDI được tính theo công thức:

Trong đó:

HDI1 – chỉ số GDP bình quân đầu người (GDP tính theo phương pháp sức mua tương đương “PPP $” có đơn vị tính là USD);

HDI2 - chỉ số học vấn (chỉ số tri thức) được tính bằng cách bình quân hóa giữa chỉ số tỷ lệ biết chữ (biết đọc, biết viết của dân cư) với quyền số là 2/3 và chỉ số tỷ lệ người lớn (24 tuổi trở lên) đi học với quyền số là 1/3.

HDI3- chỉ số tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh (kỳ vọng sống tính từ lúc sinh)

HDI nhận giá trị từ 0 đến 1. HDI càng gần 1 có nghĩa là trình độ phát triển con người càng cao, trái lại càng gần 0 nghĩa là trình độ phát triển con người càng thấp.

Chỉ số phát triển con người thực chất là chỉ số bình quân số học của 3 chỉ số thành phần: chỉ số GDP bình quân đầu người; chỉ số tuổi thọ và chỉ số tri thức với giả thiết chúng có vai trò đóng góp vào đại lượng bình quân hoá như nhau (quyền số cũng là 1). HDI dùng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ đó sắp xếp các quốc gia và vùng lãnh thổ vào các mức: phát triển; phát triển trung bình hay kém phát triển.

Chỉ số HDI của các tỉnh miền núi phía bắc thời gian qua đã có những tiến bộ từ 0,0585 (năm 2001) lên 0,63 năm 2004; năm 2008 là 0,66.Tuy nhiên so với vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước thì HDI vẫn thấp hơn. Trình độ HDI (2008) cũng không đồng đều giữa các tỉnh có 6 tỉnh thuộc nhóm có trình độ phát triển thấp thì Tây Bắc chiếm 3 tỉnh đó là: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên [1; 94-95].

So với thời điểm năm 1999 và 2008, vào năm 2012 của tất cả các tỉnh Tây Bắc đều cao hơn, trong đó có tỉnh Hòa Bình đứng ở vị trí cao nhất là 43 còn lại các tỉnh đều đứng ở vị trí dưới cùng, trong đó có Sơn La Điện Biên lần lượt đứng ở vị trí số 60 61. Với Tốc độ tăng trưởng HDI bình quân nămSơn la 0.15%, Hòa Bình 0.45% thấp hơn mức trung bình của cả nước 0.9%. Vị trí trên bảng xếp hạng HDI của cả nước năm 2012 so với năm 2004 các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên đều bị tụt hạng. Điều này đặt ra những nỗ lực hơn nữa trong việc quan tâm tới phát triển nguồn nhân lực nữ và đặc biệt là nguồn nhân lực nữ DTTS của khu vực Tây Bắc. Tránh tình trạng không tăng cao hơn, nhưng cũng không để tình trạng thụt lùi so với các tỉnh khác trong cả nước.Trình độ phát triển NNL nữ các DTTS có vai trò quan trọng đến trình độ phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng Tây Bắc. Năm 2008, tỉ lệ người lớn biết chữ:ở Điện Biên,nam60,5% so với nữ là 83,4% con số tương ứng năm 2012 59,5% so với 82,4% [1; 182]; [2;190].

Chỉ số phát triển giới của Tây Bắc trong tương quan với các vùng miền khác trong cả nước cũng đạt mức thấp nhất, thấp hơn cả Tây Nguyên, đặc biệt thấp hơn so với khu vực Đồng bằng sông Hồng. Điều này đã lý giải nguyên nhân Tây Bắc lại là khu vực có thu nhập thấp và là vùng có tỉ lệ nghèo đói cao nhất trong cả nước.

 TL tham khảo:

1.Lê Thị Thúy (2014), Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc hiện nay. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

2.UNDP, Tăng trưởng vì mọi người (2015) - Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm. Nxb Khoa học xã hội

 

 

LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3

 

LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3

                                                        Nguyễn Thị Thu Châu

                                                     Bộ môn: TTHCM & ĐLCM của ĐCSVN

 

1. Lịch sử ra đời ngày Quốc tế Phụ nữ

Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 bắt đầu từ phong trào đấu tranh đòi quyền sống của nữ công nhân Mỹ.

Cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản phát triển tột bậc, nhất là ở nước Mỹ. Nền kỹ nghệ phát triển, thu hút nhiều phụ nữ và trẻ em vào làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp. Bọn chủ tư bản lợi dụng sức lực của phụ nữ, trẻ em, trả lương rẻ mạt làm cho đời sống của phụ nữ và trẻ em cực khổ, điêu đứng. Căm phẫn trước sự áp bức tàn bạo đó, ngày 8/3/1899, tại hai thành phố Chicago và New-York (của nước Mỹ) đã nổ ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nữ công nhân ngành dệt may, đòi tăng lương, giảm giờ làm.


Cuộc biểu tình của đòi quyền lợi của phụ nữ trên thế giới.

Mặc dù bị thẳng tay đàn áp, bắt bớ, đuổi ra khỏi nhà máy nhưng chị em vẫn đoàn kết, bền bỉ đấu tranh, buộc bọn chủ tư sản phải nhượng bộ. Thắng lợi đó đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của phụ nữ lao động Mỹ. Ðến tháng 2 năm 1909 lần đầu tiên phụ nữ khắp nơi trên nước Mỹ đã tổ chức "Ngày phụ nữ" mít tinh, biểu tình rầm rộ đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ. Tại New-York đã có 3000 chị dự cuộc họp phản đối chính phủ công nhận quyền bầu cử của phụ nữ.

Những cuộc đấu tranh đầu tiên đó của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. Trong phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, đã xuất hiện 2 nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc là bà Cơ-la-re-Zet-Kin (người Ðức) và bà Rô-da-luya-Xăm-Bua (người Ba Lan). Hai bà đã phối hợp với bà Nadezhda Krupskaya (vợ của Lê-nin) vận động thành lập Ban Thư ký quốc tế phụ nữ để lãnh đạo phong trào.

Trước sự lớn mạnh về số lượng và chất lượng của phong trào phụ nữ trên thế giới. Ngày 26 và 27 tháng 8 năm 1910, đại hội lần thứ 2 của những người phụ nữ thế giới đã được triệu tập ở Copenhagen (thủ đô Ðan Mạch), về dự có 100 nữ đại biểu của 17 nước, đã quyết định lấy ngày 8/3 làm ngày quốc tế phụ nữ với mục đích đấu tranh đòi các quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

Ngày làm việc 8 giờ. Công việc ngang nhau, tiền lương ngang nhau. Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.

Từ đó đến nay, ngày 8/3 trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới, đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng, thực hiện quyền nam nữ bình đẳng và cũng từ đó, phụ nữ tiến bộ khắp năm Châu tổ chức ngày 8/3 với những nội dung và hình thức phong phú.

Nội dung ngày quốc tế phụ nữ 8/3 không chỉ dừng lại ở quyền bình đẳng mà được mở rộng thêm khái niệm mới "phát triển", "Giới". Vấn đề phụ nữ đã được đông đảo các quốc gia trên thế giới nhìn nhận và đánh giá một các đầy đủ trên những khía cạnh khác nhau thông qua một loạt các hội nghị thế giới. Từ thập niên 70 đến nay, đã có 4 hội nghị thế giới về phụ nữ:

·                     Hội nghị lần thứ nhất tổ chức tại Mexico năm 1975, mở đầu thập kỷ phụ nữ.

·                     Hội nghị lần thứ hai tổ chức tại Côpenhagen (Ðan Mạch) năm 1980.

·                     Hội nghị lần thứ ba tổ chức tại Nairobi (Kenya) năm 1985. Tại hội nghị này "Chiến lược nhìn về phía trước vì sự tiến bộ của phụ nữ" đã được thông qua.

·                     Hội nghị lần thứ tư tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1995.

Các hội nghị thế giới về phụ nữ do Liên hiệp quốc đứng ra tổ chức là những sự kiện Quốc tế to lớn đối với đời sống chính trị của toàn thế giới đặc biệt đối với phụ nữ. Vì lẽ đó, vấn đề giải phóng phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ là một vấn đề toàn cầu.

Mục đích của Hội nghị Bắc Kinh là nhằm kiểm lại việc thực hiện "Chiến lược nhìn về phía trước vì sự tiến bộ của phụ nữ" đã được đề ra tại hội nghị Nairobi và công ước liên hiệp quốc "Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ" (Công ước CEDAW) đồng thời thông qua "Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ toàn cầu đến năm 2000".

"Tuyên bố Bắc Kinh" và "Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ toàn cầu đến năm 2000" là hai văn kiện quan trọng nhất của hội nghị Bắc Kinh. Hai văn kiện này một mặt phác họa những trở ngại trên con đường phấn đấu cho sự bình đẳng của nữ giới bên cạnh nam giới; Mặt khác khẳng định những cam kết và sự quyết tâm của các chính phủ, các tổ chức quốc tế bằng mọi biện pháp nhằm tới mục tiêu Bình đẳng-Phát triển-Hòa bình vì sự tiến bộ của phụ nữ.

2. Ngày Quốc tế Phụ nữ tại Việt Nam

Thực hiện cam kết đó, ngày 4 tháng 10 năm 1997, chính phủ nước ta đã có quyết định số 822/TTG về việc phê duyệt kế hoạch hành động Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành 11 mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 nhằm cam kết trước thế giới Hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam thực hiện mục tiêu "Hành động vì bình đẳng, phát triển và hòa bình" của hội nghị Bắc Kinh.

Ở nước ta, ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân tộc. Niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam một phần cũng có cội nguồn từ truyền thống dân tộc độc đáo đó.

Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa và nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của các Lạc hầu, Lạc tướng, của những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa.

Được sự ủng hộ đông đảo của các lực lượng, cuộc Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã lan rộng khắp nơi. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi, đập tan chính quyền đô hộ, buộc tướng Tô Định phải cải trang, cắt tóc, cạo râu trốn về nước.

Sau cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Bà Trưng Trắc được các tướng lĩnh và nhân dân suy tôn làm vua. Bà lên ngôi và lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương; đóng đô ở Mê Linh (huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).

Năm 42, nhà Hán lại kéo quân sang xâm lược nước ta. Hai Bà lại một lần nữa ra quân, phất cờ khởi nghĩa, bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, do chênh lệch thế lực với địch quá lớn nên cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài 2 năm. Hai Bà đã hy sinh anh dũng để bảo vệ dân tộc.

Thắng lợi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trưng được đánh giá là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện ý chí độc lập và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, cuộc khởi nghĩa cũng là một minh chứng cho sức mạnh của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử nhân loại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày 8/3/1965, đánh giá cao cống hiến của phụ nữ miền Nam Đảng, chính phủ, Bác Hồ đã tặng bức trướng thêu 8 chữ vàng "Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang" và Nhà nước đã tặng Phụ nữ miền Nam Huân chương "Thành đồng" hạng nhất.

Hiện nay, ở Việt Nam, phụ nữ chiếm 51% lực lượng lao động và đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái. Trong số các đại biểu của Quốc hội Việt Nam, tổ chức quyền lực cao nhất, phụ nữ chiếm 27,3% và được Liên Hiệp Quốc đánh giá: "Phụ nữ Việt Nam tham gia hoạt động chính trị cao nhất thế giới". Việt Nam có tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%, thạc sĩ 33,95% và tiến sĩ 25,96%.

Tại Việt Nam, để thể hiện sự tôn vinh những người phụ nữ, một nửa thế giới, người ta thường tổ chức rất trang trọng, tràn ngập hoa và những lời chúc tốt đẹp. Ngày 8/3 cũng là ngày nam giới thể hiện sự chăm sóc yêu thương cho người phụ nữ mà họ yêu quý.

3. Ý nghĩa ngày quốc tế phụ nữ

Trong 365 ngày của một năm, phụ nữ có riêng một ngày để được xã hội quan tâm và bù đắp những thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống. Họ luôn âm thầm hy sinh và chịu đựng để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, họ xứng đáng nhận được sự tôn trọng và quan tâm hơn nữa từ một nửa kia còn lại của thế giới, chia sẻ với họ những khó khăn trong công việc và gia đình.

Không ai có thể phủ nhận vai trò và trách nhiệm to lớn của người phụ nữ thời hiện đại: Họ vừa là người nội trợ, vừa tham gia lao động xã hội, đóng góp sức lực của mình vào sự phát triển của đất nước, không những thế họ còn giữ một thiên chức cao cả là một người mẹ, mang nặng đẻ đau ra những đứa con và nuôi dạy chúng thành người. Phụ nữ ngày nay đang dần khẳng định mình là phái đẹp chứ không còn là phái yếu như trước kia.

Sưu tầm

 

Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930)

Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930)

Th.s. Giang Quỳnh Hương (Sưu tầm)

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Pháp lại đẩy mạnh khai thác thuộc địa Đông Dương. Xã hội Việt Nam tiếp tục phân hóa sâu sắc. Giai cấp nông dân bị phá sản khốc liệt. Giai cấp tư sản dân tộc sinh sau đẻ muộn, bộc lộ sự non yếu về mọi mặt. Một bộ phận giai cấp tiểu tư sản toan phất ngọn cờ tư tưởng tư sản để tập hợp quần chúng xung quanh Việt Nam Quốc dân Đảng (thành lập tháng 12-1927). Nhưng vì bất lực cho nên sau cuộc bạo động non ở Yên Bái (đầu năm 1930) tổ chức đó tan rã, và ngọn cờ phản đế, phản phong, ngọn cờ giải phóng dân tộc chuyển hẳn về tay giai cấp vô sản. Yêu cầu khách quan lúc này là giai cấp công nhân phải được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin để trở thành giai cấp “Tự giác” vươn lên đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó cũng là lúc đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước và cách mạng Việt Nam tìm gặp chân lý của thời đại mới.

 

Năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Mặc dù bị đế quốc bưng bít, xuyên tạc, nhưng “nhân dân Việt Nam cũng thầm nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm, có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn bóc lột và hiện đang quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọn chủ và bọn toàn quyền” (lời Hồ Chủ tịch).

Nguyễn Tất Thành tại Hội nghị Versailles, Pháp

Cách mạng Tháng Mười Nga đã giúp đồng chí Nguyễn Ái Quốc vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời. Sau này, phát biểu về cảm xúc của mình khi đọc “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, của Lê-nin, Người viết: “Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ. Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội). Tháng 12-1920, tại Đại hội Tua, đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và đồng thời là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

          Sớm nhận thấy vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đem hết tinh thần và nghị lực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, chuẩn bị về chính trị và tư tưởng cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam. Hàng loạt bài viết của Người đăng trên các báo và tạp chí Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và cuốn sách nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp, trong suốt thời gian từ 1921-1926 đã chọc thủng tấm lưới thép của thực dân Pháp, được chuyển về Việt Nam, lôi cuốn đặc biệt những người cách mạng trẻ tuổi đầy nhiệt huyết ở nước ta đang khao khát con đường mới. Tháng 12-1924, sau khi dự đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản, với bí danh là Lý Thụy, Người về Quảng Châu, điểm nóng của cách mạng Trung Quốc, và làm việc dưới danh nghĩa của phái bộ Bô-rô-đin, cố vấn Liên - Xô bên cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa.  Chính ở đây, ngày 19-6-1924, liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã ném bom khách sạn Victory ở Sa-diện nhằm giết tên toàn quyền Méc-lanh trên đường công cán đang dự tiệc. Việc không thành, nhưng tấm gương của người anh hùng trên sông Châu như “chim én” báo hiệu mùa xuân.

Tháng 6-1925, trên cơ sở tổ chức yêu nước của Phan Bội Châu và Tâm Tâm Xã, đồng chí Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, trong đó hạt nhân là Cộng sản Đoàn (lúc đầu có 7 người, cuối 1926 đã có 24 người, tiêu biểu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong…) Nhiều lớp huấn luyện chính trị được mở tại Quảng Châu để đào tạo cán bộ tung về nước hoạt động. Tuần báo Thanh niên từ tháng 6-1926 và đặc việt cuốn Đường cách mạng (xuất bản năm 1927) đã đề cập đến những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được bí mật đưa về nước góp phần tích cực vào việc truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở trong nước. Từ sau cuộc bãi công Ba Son (8-1925), phong trào công nhân đã vượt qua giai đoạn tự phát, bước vào giai đoạn tự giác. Đặc biệt từ mùa xuân 1928, thực hiện chủ trương vô sản hóa, các hội viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Địch phải thú nhận: năm 1929 có tới 43 cuộc bãi công lớn. Phong trào công nhân trên thực tế đã trở thành lực lượng chính trị nòng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc. Trong khi đó, phong trào yêu nước và dân chủ của tiểu tư sản sau thời kỳ phát triển bồng bột (như đòi tha cụ Phan Bội Châu tháng 12-1925, đám tang cụ Phan Chu Trinh tháng 3-1926)… đã dần dần thể hiện sự bất lực của tư tưởng tư sản và tiểu tư sản.

Tình hình đó đòi hỏi cấp bách sự lãnh đạo của một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Trong nội bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, từ đầu 1929 đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản xung quanh vấn đề thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam. Tư tưởng vô sản đã chiến thắng. Tháng 3-1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) Chi bộ Cộng sản đầu tiên ra đời gồm 8 đồng chí: Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu… Đầu tháng 6-1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) 20 đại biểu Cộng sản Bắc Kỳ quyết định lập Đông Dương Cộng Sản Đảng. Mấy tháng sau, An Nam Cộng sản Đảng ra đời tại Nam Kỳ (10-1929). Dưới ảnh hưởng của những sự kiện ấy, một tổ chức yêu nước, tiến bộ, thành lập ở Trung Kỳ giữa năm 1925, lấy tên là Tân Việt cách mạng Đảng, sau lại đổi tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1930).

Như vậy, đầu năm 1930 ở nước ta có 3 tổ chức đều tự nhận là cộng sản và đều tìm cách tranh thủ sự thừa nhận của Quốc tế Cộng sản. Trong khi tuyên truyền vận động quần chúng, ba tổ chức không khỏi công kích, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng. Ngày 27-10-1929, Ban chấp hành Quốc tế cộng sản chỉ thị: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”.

   Ngày 3-2-1930 (mùng 5 tết Canh Ngọ) công nhân Phú Riềng chiếm đồn điền trong một ngày. Cũng ngày đấy, đồng chí Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Vương, thay mặt Quốc tế cộng sản chủ trì hội nghị thống nhất Đảng tại một ngôi nhà nhỏ xóm lao động thuộc Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc) gồm đồng chí Vương (Bác Hồ), đại biểu Đông Dương Cộng Sản Đảng (Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu), đại biểu An Nam Cộng Sản Đảng (Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu). Tân Việt mới chuyển thành cộng sản không kịp cử đại diện. Đảng Cộng sản Việt ra đời. Hôm ấy, chính cương và sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thảo cùng với Điều lệ đảng được thông qua. Hội nghị còn cử Ban trung ương lâm thời đại diện cho 211 đảng viên của toàn Đảng.

   Đảng ta ra đời là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc vào cuối những năm 20 của thế kỷ này. Đảng ta ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt. Đảng ta ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho thời kỳ vùng dậy oanh liệt nhất và bước nhảy vọt vĩ đại nhất trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt.

Tháng 10-1930, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất, cùng với việc thông qua bản Luận cương Chính trị do đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng khởi thảo, Đảng ta mang tên mới là Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngay lúc đó, Đảng ta đã lãnh đạo cao trào 30-31 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tháng 3-1935, sau cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp, tại Ma Cao (tô giới Bồ Đào Nha trên đất Trung Quốc) Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã họp để chuẩn bị cho một cao trào mới. Tháng 8-1945 chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do ở nước ta. Đó là kết quả vĩ đại của cả quá trình 15 năm đấu tranh kể từ khi Đảng ta ra đời (1930-1945).

   Tiếp đó, Đảng ta lại lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954). Đảng ta ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tháng 2-1951, tại khu rừng thuộc xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng đã họp, nhằm đưa công cuộc Kháng chiến - Kiến quốc đến thắng lợi. Ngày 3-3-1951, Đảng ta ra hoạt động công khai với tên mới là Đảng lao Động Việt, tổng số đảng viên đã lên đến 76 vạn đồng chí. Giai đoạn 1954-1975 Đảng ta tiếp tục lãnh đạo dân tộc Việt  trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt chống Mỹ, cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đồng thời giương cao hai ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Qua cuộc đấu tranh vĩ đại ấy, lực lượng của Đảng lớn mạnh hơn bao giờ hết, vượt qua mọi thử thách hy sinh, thực sự là lực lượng tiên phong của cách mạng. Tháng 9-1960, tại thủ đô Hà Nội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà đã khai mạc trọng thể. Đại hội đã nhất trí thông qua đường lối đấu tranh giải phóng miền  Nam thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại thành công, tháng 12-1976, trong không khí phấn khởi của đất nước vừa thống nhất, Đại hội Đảng lần thứ IV đã họp, nhằm vạch ra con đường đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với đội ngũ trùng điệp 1 triệu 50 vạn đảng viên, Đảng ta trở lại với cái tên buổi đầu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong quanh vinh của giai cấp và dân tộc, chuẩn bị đưa Tổ quốc ta đi tới những thắng lợi huy hoàng hơn nữa.

 

   Như vậy, nguồn gốc tại sao có sự ra đời của ngày 3/2/1930 là có cơ sở và ý nghĩa của nó. Điều này đã được minh chứng khi chúng ta nhìn lại lịch sử của ngày thành lập Đảng cộng sản Việt nam 3/2 mà sử sách Việt nam và thế giới đã ghi nhận.

Chuyên mục phụ

  • Thông báo
  • Tin tức - Sự kiện

    Dolor pretium adipiscing Nam Curabitur nulla Duis id tellus at et. Dui orci Sed dolor Aenean tincidunt vitae vitae sed mattis sed. Purus Vivamus dapibus lorem Vestibulum dis pellentesque tristique dui Morbi hendrerit. Eu eu eros interdum tempus facilisi orci mollis netus semper massa. Consequat sed pellentesque cursus et vel nunc lacinia quis semper senectus. Felis Donec libero nibh Sed velit a Nulla elit dui porttitor.