LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 22/12/1944

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 22/12/1944

(Th.s Giang Quỳnh Hương sưu tầm)

1. Lịch sử hình thành Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12/1944

Ngày 22/12 không chỉ là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà đã trở thành Ngày hội Quốc phòng toàn dân, một ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với toàn thể nhân dân Việt Nam. Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...". Ngày 22/12/1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao - Bắc - Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch - Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo. Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao-Bắc-Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.

Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân. Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17h ngày 25/12/1944) và sáng hôm sau (7h ngày 26/12/1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22/12/1944 được xác định là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội "của dân, do dân, vì dân"; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân. Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tổ chức các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

2. Ý nghĩa ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12/1944

Lịch sử 71 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của quân đội ta gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Một đội quân được Đảng và Bác Hồ rèn luyện, đã từng là những đội tự vệ đỏ trong cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ, Ba Tơ, Cao Bắc Lạng, Cứu quốc quân đến Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Một đội quân lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp nhau bao thế hệ cầm súng chiến đấu, cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo, giành lại độc lập thống nhất và bảo vệ vững chắc bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước Lào và Cam phu Chia anh em.

Ngày 22 - 12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Các hoạt động như mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, biểu diễn văn nghệ, đại hội thanh niên, thi đấu thể thao, hội thao quân sự,... được diễn ra ở khắp làng, xã, cơ quan đoàn thể, cơ sở đơn vị... Những hoạt động của ngày hội như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Phát huy thành tích to lớn đã đạt được trong 71 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tham gia xây dựng kinh tế đất nước và thực hiện tốt hơn chức năng làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới, xứng đáng với tên gọi: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. 

69 NĂM KỀ VAI SÁT CÁNH VÌ ĐỘC LẬP TỰ DO VÀ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC CÙNG NHÂN DÂN LÀO

69 NĂM KỀ VAI SÁT CÁNH VÌ ĐỘC LẬP TỰ DO VÀ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC CÙNG NHÂN DÂN LÀO

Nguyễn Thanh Thủy - Khoa Lý luận Chính trị

 

Sự vận động của lịch sử đã khiến hai dân tộc, hai đất nước Việt Nam – Lào gắn kết chặt chẽ với nhau. Sự gắn kết ấy bắt nguồn từ những năm tháng đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập tự do cho đất nước. Có một lực lượng không thể không nhắc đến – lực lượng truyền tải rõ nhất tình hữu nghị Việt Nam – Lào trong sáng, thủy chung. Đó là Quân tình nguyện Việt Nam và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Bounnhang Volachith khi nói về tình hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào đã khẳng định: “Nhân dân các dân tộc Lào mãi mãi không bao giờ quên, trên từng mảnh đất thiêng liêng của đất nước Lào đều ghi dấu sự hi sinh mồ hôi, xương máu của các cán bộ, chiện sỹ quân tình nguyên Việt Nam, mồ hôi xương máu của họ đã hòa quyện với mồ hôi, xương máu của các cán bộ, chiến sĩ Lào.”

Trở về lịch sử cách đây 69 năm, ngày 30/10/1949, trong cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, dựa vào những biến chuyển mới của cách mạng hai nước và đánh giá về bước phát triển mới của cuộc kháng chiến ở Lào, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam được cử làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào tổ chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện. Quan hệ chiến đấu giữa Quân đội Việt Nam và Quân đội Lào Ítxalạ được quy định rõ theo nguyên tắc: "Chỉ huy và tác chiến thì Việt Nam làm chỉ huy trưởng. Vũ trang tuyên truyền thì làm chung, phối hợp chỉ huy." Từ đó, ngày 30/10/1949 trở thành ngày truyền thống của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào. Đây cũng là mốc son đánh dấu của việc tăng cường quan hệ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội hai nước Việt Nam – Lào trong cuộc chiến đấu vì hòa bình, độc lập và tiến bộ.

 

Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào, từ năm 1945 đến khi giành thắng lợi năm 1975 và hoàn thành nhiệm vụ năm 1987, những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã kiên cường, kề vai sát cánh cùng các cán bộ chiến sỹ quân giải phóng nhân dân Lào và nhân dân các dân tộc Lào trong cuộc đấu tranh anh dũng, bền bỉ. Trong cuộc đấu tranh đó, hơn 4 vạn cán bộ chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất bạn Lào, hơn 5 vạn cán bộ chiến sỹ đã bị thương. Rất nhiền chiến sĩ khi nằm xuống chỉ còn lại dòng chữ “ Liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam”.

Quân dân Lào-Việt liên hoan mừng chiến thắng Thượng Lào. 

(Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào/Nhà xuất bản Thông tấn)

Hiện nay, những người cán bộ chiến sĩ, cựu quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào được tổ chức tại 32 tỉnh, thành phố với gần 75.000 cán bộ, chiến sĩ cựu quân tình nguyện tại Lào tham gia. Với tỉnh Sơn La, Hội Cựu chiến binh có trên 40.000 hội viên, trong đó có gần 3.500 hội viên là cựu binh đã từng tham gia quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào thời kì chiến tranh giải phóng dân tộc. Những người cựu chiến binh quân tình nguyện, mỗi khi họp mặt, vẫn luôn nhắc nhở, kể cho nhau nghe về những phút giây ấm áp bên người dân đất nước Triệu Voi. Những kí ức hào hùng vẫn còn lưu giữ.

 

Đại diện Ban Liên lạc Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào tỉnh Sơn La cùng các lưu học sinh Lào chụp ảnh lưu niệm nhân ngày truyền thống.

Bác Quàng Văn Đưa, ở xã Chiềng Xôm, thành phố Sơn La, nguyên là Trung tá, Tham mưu phó Mặt trận 379, đã có hơn hai chục năm tham gia chiến đấu, công tác, phục vụ tại đất nước Lào anh em. Bác nhớ lại: Bác Đưa kể lại: “Năm 1967, khi đang là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 428 của tỉnh Sơn La thì tôi được cử sang “Chiến trường C”, đóng quân tại Mường Son, tỉnh Hủa Phăn của Lào. Một lần trong trận đánh phối hợp với đơn vị bạn trong trận giải phóng xã Tông Cọ (Luông Pha Băng-Lào) tháng 11/1970, quân ta đã phải quần nhau với địch từ 2 giờ đêm hôm trước đến 10 giờ sáng hôm sau. Năm 1972, tôi được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn 148, chuyển quân đóng tại tỉnh Phông Sa Lỳ. Thời gian này, ngoài nhiệm vụ phối hợp chiến đấu, đơn vị của tôi còn giúp bạn xây dựng lực lượng, mở đường giao thông, xây dựng kinh tế, được bà con các bộ tộc Lào đùm bọc, tin yêu”.

Cũng là quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại chiến trường Lào năm xưa, bác Lường Hòa Bình, 63 tuổi (một cựu chiến binh) ở bản Pán, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, nhập ngũ năm 1971 thuộc tiểu đoàn 172, Quân khu Tây Bắc, sau đó chuyển đến Trung đoàn 82 hành quân từ Sơn La sang Luông Pha Băng (Lào). Nhớ lại trận đánh đầu tiên mà bác được tham gia là tiêu diệt quân địch tại sân bay Luông Pha Băng. Khi đó, bác Bình có nhiệm vụ thông tin giữa người đo đạc vị trí điểm rơi của đạn pháo và thông tin với người chỉ huy. Trận đánh toàn thắng gây tiếng vang lớn. Sau đó, đơn vị bác Bình đã tiếp tục phối hợp với quân Pathet Lào đánh nhiều trận và giành nhiều chiến công. Các bác là những anh hùng trong khi làm nhiệm vụ quốc tế, là những tấm gương sống về tình đoàn kết thủy chung giữa hai nước nhắc nhở thế hệ sau này phải luôn giữ gìn.

 

Lãnh đạo tỉnh Sơn La, Hội Cựu chiến binh tỉnh Sơn La, Ban Liên lạc Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào tỉnh Sơn La trong những năm qua đã luônchú trọng thực hiện công tác giáo dục truyền thống, thường xuyên thăm hỏi, giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, hỗ trợ tìm kiếm các liệt sĩ đã hy sinh tại Lào, đồng thời giúp đỡ các cựu chiến binh và con em các gia đình trong cuộc sống và học tập. Đây không chỉ thể hiện chính sách đối với người có công mà còn góp phần gìn giữ và thắt chặt mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt – Lào.

VAI TRÒ CỦA CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN

 

 

ThS.Nguyễn Thị Hương

Cố vấn học tập (CVHT) có vai trò rất quan trọng trong đào tạo theo học

chế tín chỉ. Theo quy chế 43 của Bộ Giáo dục và đào tạo, CVHT là người tư vấn

và hỗ trợ sinh viên phát huy tối đa khả năng học tập, lựa chọn học phần phù hợp

để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp; theo dõi thành tích học tập của sinh viên nhằm

giúp sinh viên điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra một lựa chọn đúng trong quá

trình học tập; quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo lớp được phân công phụ trách đảm

bảo các quyền và nghĩa vụ của sinh viên.

Công tác quản lý sinh viên là một mặt quan trọng trong quá trình thực

hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của nhà trường. Quản lý tốt sinh viên sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn đồng

thời tạo ra môi trường tốt cho việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách, tác

phong và lối sống cho sinh viên. Hiện nay, SV đang học tập trung tại trường Đại

học Tây Bắc không chỉ ở trong các khu ký túc xá của nhà trường mà rất nhiều

em ở ngoại trú và tạm trú trong các xóm trọ xung quanh trường. Thời gian SV

lên giảng đường của trường để học tập, sinh hoạt ít so với tổng thời gian trong

ngày. Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ (mỗi SV có một kế hoạch học

tập, lịch học khác nhau) đã làm cho những người quản lý như Ban cán sự lớp,

Trợ lý khoa, cố vấn học tập gặp nhiều khó khăn trong việc gặp gỡ, kiểm tra,

triển khai các chủ trương, chính sách, cung cấp và trao đổi thông tin lẫn nhau.

Các tệ nạn xã hội bên ngoài như cờ bạc, mại dâm, ma túy, lô đề ngày một gia

tăng; sinh viên xa gia đình không có người quản lý dễ bị lôi kéo, tham gia. Vậy

CVHT người được lãnh đạo khoa tin tưởng gửi gắm nhiệm vụ sát sao với sinh

viên lớp mình phụ trách cần làm gì để quản lý sinh viên một cách hiệu quả? Với

 

kinh nghiệm từng làm CVHT lớp K55ĐH GDCT A tôi xin chia sẻ một vài kinh

nghiệm sau:

1. CVHT cần đi kiểm tra, nắm tình hình SV tạm trú trên các địa bàn: Thu

thập được các thông tin của sinh viên ở tạm trú như giá phòng trọ, giá tiền điện,

tiền nước, các vụ việc liên quan đến SV. Những khó khăn, vất vả của SV khi

các em rời khỏi sự giám sát, giúp đỡ của gia đình sống tự lập; Những mặt trái

của cơ chế thị trường, môi trường sinh hoạt ngoài cổng trường nơi các em đang

tạm trú, các tệ nạn xã hội, lối sống, nếp nghĩ của tuổi trẻ sống trong bối cảnh lối

sống phương Tây đã có những ảnh hưởng nhất định đến sinh viên.

2. Động viên cũng như giúp đỡ sinh viên kịp thời: Với năm đầu tiên, sinh

viên rất bỡ ngỡ với hình thức học tập khác hẳn với lúc còn học phổ thông, với

bạn mới, thầy cô mới, làm quen với cuộc sống mới khi xa nhà,.. Phần lớn các

sinh viên còn rụt rè, thụ động và chưa xác định rõ ràng phương pháp học tập.

Đặc biệt, một số sinh viên đến từ các vùng nông thôn chưa biết sử dụng internet

tìm thông tin hay đăng ký môn học trực tuyến trên website, cách thức học tín

chỉ là hoàn toàn xa lạ. CVHT cần hướng dẫn sinh viên cách thức đăng ký môn

học từng học kỳ qua mạng, tư vấn cho sinh viên nên chọn học phần tự chọn nào

là phù hợp với chuyên ngành mà mình đang học.

Ngoài ra, CVHT còn hướng cho các em động lực học tập, phương pháp

học tập khoa học, giữ gìn sức khỏe (ăn gì cho đảm bảo sức khỏe, ngủ đủ giấc,

chi tiêu hợp lý,…) là rất cần thiết. Những điều tưởng chừng như đơn giản nhưng

các em không hẳn biết hết.

3. Ngay từ đầu năm thứ nhất, CVHT nên thiết lập sổ hồ sơ thông tin sinh

viên bao gồm: hình ảnh, họ tên, địa chỉ, điện thoại, email,… và tạo facebook

của lớp để có thể liên lạc sinh viên nhanh chóng. Đồng thời, CVHT trực tiếp xin

địa chỉ, số điện thoại của phụ huynh, đặc biệt tìm hiểu rõ hoàn cảnh gia đình của

một số các sinh viên có biểu hiện lơ là trong học tập, kịp thời báo tình hình học

tập cho phụ huynh vào các thời điểm giữa, cuối mỗi học kỳ.

 

Ngoài ra, CVHT cần tạo một địa chỉ điện tử riêng cho lớp chia sẻ thông

tin, tâm tư, nguyện vọng, và giúp CVHT gần gũi với lớp hơn.

4. Lên kế hoạch và hướng phấn đấu của lớp trong cả năm học

Đầu mỗi năm học CVHT cùng với lớp lên kế hoạch phấn đấu hạn chế SV

thi lại và vi phạm nội quy của nhà trường. Hướng dẫn sinh viên tham gia các

hoạt động ngoại khóa, các phong trào của Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên để có

thể học các kỹ năng sống cần thiết.

CVHT khuyến khích các em tham gia vào các đội bóng đá, bóng chuyền

của lớp, khoa; giúp các em nhận thức đây là cách tuyệt vời để giữ gìn sức khỏe,

giải tỏa căng thẳng sau những giờ lên lớp.

Cuối mỗi học kỳ, CVHT tham gia cùng lớp thực hiện đánh giá kết quả

rèn luyện sinh viên. Giúp đỡ, tư vấn cho sinh viên làm thủ tục giải quyết công

việc bảo lưu kết quả, chế độ, chính sách, học bổng,…

5. Thường xuyên hỏi thăm tình hình học tập của lớp 

CVHT họp lớp định kỳ 3 lần/1 học kỳ và có thể họp đột xuất, đồng thời

qua những kênh liên lạc riêng như email, facebook, điện thoại để có thể kịp thời

trao đổi thông tin và giúp đỡ, hướng dẫn sinh viên giải quyết các vướng mắc

trong học tập và cuộc sống.

Bên cạnh đó, CVHT cũng trao đổi tình hình học tập của lớp với các thầy

cô bộ môn khác, để có hướng điều chỉnh phương pháp giảng dạy cũng như

phương pháp học tập cho thích hợp.

6. Tổ chức lớp thành một lực lượng tự quản, đoàn kết, phát huy kỹ năng

học theo nhóm

CVHT chọn ra ban cán sự lớp, ban chấp hành Đoàn, Hội để hỗ trợ CVHT

trong việc quản lý lớp cũng như phổ biến các phong trào.

 

Ngay từ năm đầu CVHT cần thành lập các nhóm học tập để các sinh viên

giỏi phụ đạo cho các sinh viên yếu kém. Với đặc thù khoa Lý luận Chính trị số

lưu HS lào theo học ngày càng đông thì CVHT càng phải quan tâm hơn tới các

nhóm học tập này. Cần chọn lọc các bạn SV người Việt học giỏi, ý thức tốt

nhiệt tình hỗ trợ các bạn lưu HS Lào để các bạn Lào học tập tốt hơn đồng thời

góp phần làm cho mối quan hệ Việt – Lào ngày càng thắm thiết hơn. CVHT cần

nhấn mạnh với các em SV Việt Nam rằng phần đóng góp này sẽ được cộng

thêm điểm rèn luyện để khuyến khích các em tham gia. Với SV năm thứ 3 cần

đôn đốc các em tích cực học tập để đảm bảo tiến độ khi hết học kì 7 số tín chỉ

tích lũy phải từ 120 tín và tổng điểm phải từ 2.0 trở lên. Nếu không đảm bảo

điều đó các em sẽ không được đi thực tập cùng tập thể lớp, trường. Với SV năm

cuối CVHT sẽ rà soát nhắc nhở sinh viên trả nợ môn học để kịp thời xét tốt

nghiệp.

Cố vấn học tập là cầu nối giữa sinh viên với nhà Trường, với khoa, với

phụ huynh. Để làm tốt công tác quản lý SV thì không phải người GV chỉ cần

hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ chung, mà còn phải thật sự tâm huyết, nhiệt

tình, gần gũi, chia sẻ, quan tâm với lớp để hiểu rõ sinh viên và giúp đỡ các em

khi cần thiết.

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY BẮC HIỆN NAY

PHÁT TRIỂNNGUỒN NHÂN LỰC NỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở TÂY BẮC HIỆN NAY

Đỗ Huyền Trang*

Trường Đại học Tây Bắc

Tóm tắt:

Nguồn nhân lực nữ trong đó có nguồn nhân lực nữ các dân tộc thiểu số chính là động lực cho sự phát triển của các quốc gia, khi bất bình đẳng giới và phân biệt đối xử với phụ nữ là vấn đề nổi cộm ở nhiều quốc gia, nhiều thành phần dân tộc, đặc biệt là các nước đang phát triển. Nguồn nhân lực nữ trong đó có nguồn nhân lực nữ các dân tộc thiểu số là giải pháp đầu tư hữu hiệu không chỉ giúp giải quyết các vấn đề khó khăn về kinh tế, việc làm mà còn tạo động lực cho sự phát triển của toàn xã hội. Bài viết này đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay.

Từ khóa: Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nữ dân tộc thiểu số, phát triển nguồn nhân lực, dân tộc thiểu số, phát triển.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực (NNL) các dân tộc thiểu số là tổng thể số lượng và chất lượng người dân tộc thiểu số (DTTS) với các tiêu chí về thể lực, trí lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực của lao động dân tộc thiểu số trong quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. [1;tr 11]

NNL dân tộc thiểu số được hiểu là một bộ phận của dân cư, không đồng nhất với quan niệm nguồn lực người dân tộc thiểu số hoặc toàn bộ dân cư DTTS. Đây được tính là những người dân tộc thiểu số, không phân biệt nam, nữ, trong độ tuổi lao động trực tiếp tham gia vào quá trình lao động động, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Lực lượng này không bao hàm người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động nhưng không tham gia lao động.

Phát triển NNL nữ các DTTS là sự gia tăng về quy mô, hợp lý hóa cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ các DTTS đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển của nữ các DTTS. Nó chính là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng NNL nữ các DTTS với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như gắn với vùng dân tộc thiểu số.

Các phương diện thể hiện phát triển NNL nữ DTTS bao gồm: “phát triển về số lượng và chất lượng” [2, tr 38]:

Về số lượng được thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi NNL nữ DTTS.  Về chất lượng là sự phát triển thể hiện ở cả ba phương diện: thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức - tinh thần. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) đất nước và phát triển kinh tế thị trường NNL nữ các DTTS không chỉ nhận đươc những sự tích cực, trước những thời cơ và triển vọng mà còn có cả những thách thức và nguy cơ.

Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ.Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, với diện tích trên 5,64 triệu ha và trên 3,5 triệu dân.[4; tr21]

Tây Bắc là vùng có trình độ phát triển kinh tế chưa cao, đời sống nhân dân còn khó khăn,là khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước, có quy mô nhân lực nhỏ, dân số chủ yếu tập trung tại vùng nông thôn. Tính đến 1/7/2015, Tây Bắc hiện có nguồn nhân lực dồi dào trong đó NNL các DTTS có khoảng 3.345.377 người, trong đó nguồn nhân lực nữ các DTTS của toàn vùng khoảng 1.659.306,99 người chiếm 49,6% dân số các DTTS của toàn vùng, lực lượng lao động nữ trong độ tuổi lao động là: 957.420,134 người chiếm 57,7% trong tổng số nguồn nhân lực nữ các DTTS  và trên 30% lực lượng lao động toàn vùng.[5;tr 97]. NNL nữ DTTS ở Tây Bắc hiện nay còn yếu, kém về chất lượng và số lượng so với lao động nam DTTS và so với lao động ở khu vực khác.

Qua những nghiên cứu về NNL nữ các DTTS, một số vấn đề đượcđặt ra như sau:

 Thứ nhất:Đời sống kinh tế - xã hội thấp kém, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển các nguồn lực, đòi hỏi Đảng và nhà nước cần đề ra chủ trương, chính sách đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực Tây Bắc.

 Thứ hai: Cần nâng cao chất lượng nguồn lao động về mọi mặt trong đó đặc biệt là nâng cao trí lực, đồng thời xây dựng môi trường lao động thu hút nhân tài.

Thứ ba:Để tập trung hơn nữa, nâng cao chất lượng NNL nữ các DTTS ở khu vực Tây Bắc đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải quan tâm hơn nữa trong sửa đổi, ban hành và thực thi chính sách nhằm phát triển NNL nữ các DTTS ở Tây Bắc trong thời gian tới.

Thứ tư:  Bản thân nữ các DTTS còn có những rào cản về văn hóa truyền thống, về nhận thức vị trí vai trò của mình trong đời sống kinh tế - xã hội, trong khi yêu cầu ngày càng cao và khắt khe của thị trường đặt ra vấn đề họ cần phải có những đột phá, thay đổi chính bản thân

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Nâng cao đời sống kinh tế - xã hội cho NNL nữ các DTTS ở Tây Bắc hiện nay

 Nhằm nâng cao đời sống kinh tế xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành nông nghiệp để giải quyết việc làm là một trong những giải pháp cần thiết hiện nay. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 có khoảng trên 40% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỉ trọng các dịch vụ phục vụ nông nghiệp và nông thôn, tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề. Chú trọng công tác khuyến nông, khuyến ngư, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, phát triển kinh tế trang trại, đầu tư nâng cấp hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất, đảm bảo an toàn phòng chống thiên tai.

Phát triển các dịch vụ nông thôn, trung tâm chuyển giao công nghệ đưa công nghệ cao vào trong sản xuất để nâng cao thu nhập và chuyển hóa cơ cấu lao động nông thôn, mở rộng hệ thống thương mại, dịch vụ phục vụ cho sản xuất, khôi phục và mở rộng các làng nghề truyền thống, chuyển đổi nghề cho người dân không còn đất sản xuất do quá trình đô thị hóa, làm thủy điện.

Xã hội hóa công tác đào tạo nghề, tăng cường đào tạo nghề cho nông dân tập trung vào các nhóm đối tượng cụ thể như: nhóm nông dân nghèo, nhóm dân tộc thiểu số, nhóm ven đô thị, nhóm chuyên sản xuất cây thực phẩm, cây công nghiệp…. gắn kết các cơ sở sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo nghề, tỉnh cần có những chính sách đặc biệt khuyến khích mô hình này.

Nâng cao chất lượng lao động nông thôn, lao động dân tộc thiểu số trong đó cần đặc biệt chú ý quan tâm tới lao động nữ dân tộc thiểu số, điều này đang đòi hỏi nhưng bước đi đột phá.

Giải quyết việc làm gắn với nông nghiệp và phát triển nông nghiệp nông thôn. Tăng cường cơ sở kỹ thuật, dịch vụ giới thiệu việc làm để đảm bảo các điều kiện cho thị trường lao động phát triển, thông tin thị trường được công khai giúp cho người lao động có thể nhận biết được cơ hội của mình. Có chính sách hỗ trợ, đảm bảo tài chính, tư vấn đối với lao động nông thôn, lao động người DTTS khi đi xuất khẩu lao động

Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nhất là vùng khó khăn, phát triển các khu công nghiệp, thu hút đầu tư nước ngoài. Đặc biệt cần “lựa chọn những ngành mũi nhọn như khai thác, chế biến khoáng sản, mía đường, chăn nuôi đại gia súc…” [3,tr 245] để phát triển. Đẩy mạnh và tăng cường tuyên truyền chính sách thu hút nhân tài về tỉnh nhà, mềm dẻo trong việc sử dụng người tài bằng cách thuê, hợp tác, tư vấn đối với các chuyên gia đầu ngành, trong các lĩnh vực công nghệ cao.

Hỗ trợ nguồn nhân lực nữ DTTS xây dựng, tổ chức cuộc sống gia đình, đẩy mạnh và phát huy hơn nữa vai trò của dịch vụ gia đình.Xây dựng chính sách phát triển các ngành, các hình thức dịch vụ gia đình, chính sách giảm nhẹ công việc cho phụ nữ miền núi có thể được thực hiện thông qua việc nhà nước hỗ trợ phát triển các dịch vụ gia đình theo quan điểm  coi lao động nội trợ là một bộ phận của lao động xã hội. .

Nâng cao nhận thức cho các thành viên trong gia đình, chú trọng đến NNL nữ các DTTS về kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy chăm sóc con cái, khuyến khích sự quan tâm của các thành viên trong gia đình chia sẻ các hoạt động lao động.

 Bài trừ các hủ tục lạc hậu, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của đồng bào DTTS. Tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào DTTS, đặc biệt là nữ DTTS, phân tích rõ tác hại của các hủ tục, vận động nhân dân từng bước xóa bỏ các hủ tục lạc hậu không còn phù hợp với đời sống hiện tại, gây lãng phí, tốn kém.

Phát triển các tổ chức tập hợp đoàn kết phụ nữ:Các đoàn thể quần chúng là những tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp các thành viên tự nguyện thuộc các nhóm xã hội khác nhau như Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên…

Tăng cường công tác y tế, giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình.Phát triển mạng lưới y tế, đảm bảo cho các trẻ em gái DTTS được hưởng các dịch vụ y tế, việc chăm sóc y tế tốt sẽ có tác động lớn tới chất lượng NNL nữ DTTS trong tương lai. Hạn chế nhu cầu nhiều con để tập trung nuôi con khỏe, dạy con ngoan, chuẩn bị hành trang bước vào đời cho con thật tốt.. Chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em gái DTTS phải được tiến hành một cách tích cực, chủ động và quyết liệt, đẩy mạnh các phong trào trong khu dân.

Đẩy mạnh giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng nguồn NNL nữ các DTTS ở Tây Bắc hiện nay

Phát triển nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao mức sống, về cơ bản được tiến hành thông qua giáo dục, đào tạo.

Đối với NNL nữ các DTTS ở Tây Bắc hiện nay để nâng cao chất lượng của họ cần có những chính sách cụ thể, gắn với đặc thù của vùng. Nâng cao chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo dự bị đại học, hệ cử tuyển của các trường đại học, cao đẳng ở miền núi phía Bắc. Thực hiện công bằng, khách quan chính sách cử tuyển của nhà nước đối với học sinh các dân tộc thiểu số trong khu vực. Thực hiện tốt chế độ chính sách trung ương, địa phương ban hành đối với cán bộ, giảng viên theo quy định, xây dựng các chính sách đặc thù về chế độ đãi ngộ cho giáo viên các tỉnh miền núi và biên giới.

Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cho công tác đào tạo nghề, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng khó khăn, vùng có nhiều đồng bào là DTTS ít người. Tìm ra những mô hình dạy nghề mang tính mũi nhọn, đào tạo nghề mang tính quy mô, bài bản theo trường, lớp, không đào tạo nghề mang tính kinh nghiệm, gia đình. Tăng tỉ lệ chi ngân sách cho dạy nghề, ưu tiên ngân sách cho cơ sở đào tạo nghề dân tộc nội trú, nghề đào tạo khó tuyển sinh và nghề nghiệp cho người tàn tật.

Thực hiện chính sách cử tuyển học sinh là người DTTS tại chỗ. Quy định giao nhiệm vụ cho các trung tâm dạy nghề của tỉnh tổ chức các khóa đào tạo dành riêng cho đồng bào DTTS đặc biệt là nữ DTTS.Xây dựng các dự án và cơ chế chính sách đặc thù kèm theo để phát triển NNL DTTS, lồng ghép các chương trình, dự án đào tạo như chương trình 134,135, khuyến nông, khuyến lâm….để  đào tạo kỹ năng cho lao động DTTS.

Quy hoạch lại mạng lưới đào tạo nhân lực, cần đến gần, tiếp cận học sinh, khuyến khích học sinh đến trường nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng dân tộc hẻo lánh, có chính sách để khi học sinh đến trường rồi phải giữ được học sinh tránh việc học sinh bỏ học. Nâng cao chất lượng cơ sở đào tạo để đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục ở các cấp.

Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng và đại học giai đoạn 2006 - 2020 đã được chính phủ phê duyệt, các trường này sẽ được cơ cấu và xắp xếp lại theo hướng gọn nhẹ, hiện đại, gắn với phương hướng phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng nhân lực của các cơ quan, các ngành. Đào tạo bồi dưỡng gắn với nhu cầu thực tiễn công việc, nâng cao chất lượng dạy và học tiếng dân tộc, ngoại ngữ tại các địa phương trong các trường trung học.

Lựa chọn ngành mũi nhọn để tập trung ưu tiên, đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở đặc thù của các tỉnh.Các tỉnh Tây Bắc có một số ngành nghề mũi nhọn chung như: Khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, mía đường, chăn nuôi gia súc, công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến gỗ, chè, cao su, cây dược liệu, nông nghiệp gắn với công nghệ cao. Qua đây xuất hiện một số ngành công nghệ cao cần đòi hỏi trong thời gian tới như: chế biến chuyên sâu về khoáng sản (hiện nay và trước kia vẫn chủ yếu là chế biến thô, nên chất lượng sản phẩm và giá trị thu về chưa cao); phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn ưu tiên như: công nghiệp chế biến đã có thương hiệu mạnh như (chè Mộc châu, Sữa Mộc châu) đảm bảo tăng năng suất, tăng chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, an ninh luong thực; Công nghiệp năng lượng, phát triển dịch vụ du lịch cộng đồng, nhằm khai thác các nguồn lực dân tộc thiểu số. Với nhiều địa điểm được quy hoạch và là khu du lịch quốc gia tại các tỉnh như Điện Biên, Mai Châu, Kim Bôi, Mộc Châu, lòng hồ sông Đà …

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền khu vực Tây bắc về vai trò công tác phát triển NNL nữ các dân tộc thiểu số trong thời kỳ CNH, HĐH.

Quán triệt quan điểm con người là nền tảng, là yếu tố quyết định nhất trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng của đất nước, sự hưng thịnh của vùng. Vì vậy cần sự chuyển biến mạnh ở các cấp lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở về việc phải đổi mới triệt để trong quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo, xây dựng xã hội học tập, về sự cần thiết phải cải thiện giống nòi, đảm bảo dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe toàn diện NNL nữ DTTS, về việc phải tạo điều kiện, nâng cao thu nhập cho đối tượng này.

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển NNL nữ các DTTS ở Tây Bắc hiện nay. Do điều kiện kinh tế xã hội còn hết sức khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém nên tại khu vực này, việc tiếp cận về thông tin và phát triển NNL nữ các DTTS còn nhiều bất cập. Đội ngũ tuyên truyền viên cần có những phương pháp tiếp cận vận động tới các hộ gia đình người DTTS, nhằm thu hút người dân hiểu và tham gia với công tác đào tạo NNL nữ đến tuổi lao động.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình hành động của Nghị quyết số 11- NQ/TW của Bộ Chính trị “Về công tác phụ nữ thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục thực hiện Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật hôn nhân gia đình… sâu rộng trong quần chúng nhân dân cả nam và nữ.  Tạo cơ hội để nhân lực nữ miền núi nhất là nhân lực nữ DTTS được tham gia xây dựng, lãnh đạo thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế văn hóa xã hội của địa phương.

Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục đào tạo, các tổ chức khoa học và công nghệ với các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển nhân lực của trung ương và tỉnh.

Đổi mới cơ chế quản lý của các cấp, ngành về phát triển nguồn nhân lực

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách đối với giáo dục - đào tạo. Ngoài việc thực hiện các chính sách chung của Nhà nước đối với giáo dục và giáo viên các cấp, các tỉnh cần có chính sách đặc thù khuyến khích đào tạo các môn đặc thù đặc biệt chú trọng phát triển tiếng dân tộc thay cho việc học ngoại ngữ trước đây.

Hoàn thiện, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lựcvà hiệu quả hoạt động của bộ quản lý phát triển NNL. Có kế hoạch thu hút, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực; đổi mới phương pháp đánh giá năng lực công tác và chế độ khen thưởng - kỷ luật, đổi mới phương pháp quản lý hành chính nhân lực theo hướng hiện đại hiệu quả. Rà soát, đánh giá, quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý phát triển NNL của ngành. Nhìn chung, mặt bằng giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào các DTTS vẫn còn có khoảng cách đáng kể với người Kinh. Chất lượng nguồn nhân lực đồng bào DTTS còn hạn chế, đội ngũ cán bộ DTTS thiếu và một bộ phận yếu về trình độ chuyên môn.Mặc dù Đảng, Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chính sách đối với giáo dục, đào tạo vùng DTTS, tuy nhiên đến nay vẫn chưa thể giải quyết được hết những khó khăn của địa phương. Công tác quản lý giáo dục dân tộc chưa theo kịp thực tiễn phát triển giáo dục ở vùng DTTS, miền núi; công tác chỉ đạo còn thiếu linh hoạt và mang nặng thủ tục hành chính; công tác tham mưu ban hành một số chính sách cụ thể chưa phù hợp với tình hình thực tế chính vì vậy cần có chính sách ưu tiên phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng sâu và vùng xa:

Nâng cao tính tích cực chủ động phấn đấu vươn lên của phụ nữ  các DTTS ở Tây Bắc hiện nay

Mục tiêu xây dựng NNL nữ các DTTS Tây Bắc có phong cách sống, có nhân cách, tinh thần lao động phù hợp đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Điều này đòi hỏi lực lượng này phải biết tiếp nhận, hình thành những giá trị mới đồng thời phát huy những giá trị truyền thống, trong đó có giá trị đạo đức, tinh thần của NNL nữ các dân tộc thiểu số.Loại bỏ những tâm lý, thói quen lạc hậu do ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ như chủ quan, bảo thủ, tùy tiện, thiếu tinh thần tập thể, thụ động… gạt bỏ những tư tưởng phong kiến và hủ tục lạc hậu như: trọng nam khinh nữ, tâm lý mặc cảm, tự ti ở nữ giới…. đồng thời phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lệch lạc trong định hướng giá trị đạo đức, nhân cách của một bộ phận nữ DTTS Tây Bắc trước những tác động của kinh tế thị trường như: lối sống hưởng thụ, ích kỉ các nhân, chạy theo lợi ích vật chất mà chà đạp lên những giá trị tinh thần, làm tha hóa, bang hoại giá trị đạo đức của phụ nữ.

Nỗ lực học hỏi, bổ sung cho mình kiến thức văn hóa và nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng kịp yêu cầu của xã hội. Nữ DTTS ở Tây Bắccần có bản lĩnh và khả năng tổ chức. Cần nâng cao tính tích cực xã hội của mình: Người phụ nữ cần lôi kéo các thành viên trong gia đình mình, chia sẻ, trách nhiệm cho các thành viên, xóa bỏ tự ti, mặc cảm về mọi mặt, vươn lên tự khẳng định mình trong gia đình và xã hội.Giải phóng phụ nữ, đấu tranh vì sự phát triển của phụ nữ là sự nghiệp của toàn xã hội nhưng trước hết đó là sự nghiệp của bản thân người phụ nữ, phụ nữ chỉ được giải phóng, được phát triển khi họ nhận thức ra được vị trí, vai trò của mình và có quyết tâm vì sự nghiệp cao cả ấy, việc giải phóng lao động nữ phải là việc của phụ nữ.

KẾT LUẬN

NNL nữ trong đó có nguồn nhân lực nữ các DTTS có đóng góp nhất định quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Để phát huy hơn nữa số lượng, chất lượng của lực lượng lao động này cần có sự chung tay của Đảng, Nhà nước và người lao động, của tổng hợp các biện phát phát triển kinh tế - xã hội trong đó không thể thiếu được sự nỗ lực cố gắng vươn lên của bản thân người phụ nữ DTTS ở Tây Bắc.

Tài liệu tham khảo

1.       21.Lương Đình Hải (2018), “Quan niệm về nguồn nhân lực trong bối cảnh cách mạng khoa học công nghệ - hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu con người số 2 (95), tr 11.

2.       32.Nguyễn Thị Giáng Hương (2016), Phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nxb Quốc gia sự thật, Hà Nội

3.       43.Nguyễn Đình Nguyên (chủ biên) (2016), Hiện trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực Tây Bắc giai đoạn 2016 - 2020, Nxb Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội

4.Tổng cục Thống kê (2009), Tổng điều tra dân số, Hà Nội

4.                5.Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số (5/2017) - tiểu dự án hỗ trợ giảm nghèo PRPP - UBDT do UNDP và Irish Aid tài trợ- UBDT - Lưu hành nội bộ, Hà Nội

5.        

6.        

7.        


DEVELOPMENT OF HUMAN RESOURCES FOR ETHNIC MINORITY WOMEN

IN THE NORTH - WEST

Do Huyen Trang - Tay Bac University

Abstract: Female human resources, including those belonging to ethnic minoritíe women, are the driving forces for the prosperity of nations, when gender inequality and discrimination against women are a prominent issue in many countries, many ethnic groups, especially developing countries. Female human resources, including female ethnic minority women as an effective investment solution not only to economy and employment problems, but also to enhance the development of the whole society. This paper proposes some solutions for developing human resoures among of ethnic minorities in the Northwest region of Vietnam

Keywords: Human resources, ethnic minority human resources, human resources development, ethnic minorities, development

 

 

 


 

 

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO TÍNH CHỦ ĐỘNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

 

 

Người viết: Th.S Vũ Diệu Linh

Theo cương lĩnh của văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản

Việt Nam lần thứ XI đã nêu “…Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu

cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa

chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan

hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy

người. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, chậm đổi

mới…”.

Do vậy xu thế áp dụng việc dạy học lấy người học làm trung tâm đang trở

thành một xu thế chính, đó là cách thức dạy học hướng vào người học nhằm  nâng

cao tính chủ động của người học, chiếm lĩnh tri thức, kích thích sự ham hiểu biết

của người học, luôn coi người học vừa là mục đích, vừa là chủ thể của quá trình

dạy học. Và môn học kinh tế chính trị Mác – Lênin cũng không nằm ngoài xu thế

này.

  Bởi vì, quá trình dạy học luôn có hai chủ thể: Thầy và Trò. Cả hai chủ thể

này đều chủ động, tích cực bằng hoạt động của mình hướng tới tri thức. Thầy thì

hoạt động truyền đạt tri thức; Trò là hoạt động chiếm lĩnh, đón nhận tri thức và

biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động trong nhận thức và thực

tiễn. Đây là quan điểm dạy học mà đa số các nước có nền giáo dục tiên tiến quan

tâm áp dụng. Chỉ xin nhấn mạnh rằng hoạt động của thầy và trò đều là hoạt động

có ý thức dưới sự chỉ huy của ý thức để đạt mục tiêu của mình. Vì vậy, kết quả

nhận thức của họ trong các quá trình nhận thức, trước khi đạt đến mức chuyển hóa

được thành phương pháp, là công cụ cho họ thực hiện mục đích của mình. Do vậy,

 

khi bàn về phương pháp dạy học, chúng ta phải bàn đến cả phương pháp dạy của

người thầy cũng như phương pháp học của người học. Sự phù hợp của hai phương

pháp này cho chúng ta hiệu quả thực sự của việc dạy và học.

Thực hiện chương trình dạy học lấy người học làm trung tâm thì hoạt động

của thầy và trò tương ứng như sau:

- Người học tự khai phá tri thức, tự nghiên cứu; thầy chỉ hướng dẫn và cung

cấp thông tin.

- Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự kiểm tra mình;

người thầy chỉ làm trọng tài.

- Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh, thầy chỉ làm cố vấn.

  Do đó. Để thực hiện tốt quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm, thì

vai trò của người thầy khi đó là:

+ Không thể mờ nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn, người thầy vẫn là linh hồn

của giờ học sáng tạo và sinh động. Bởi vì, để có thể làm người hướng dẫn, cung

cấp thông tin, trọng tài hay cố vấn v.v. Thì người thầy phải có hiểu biết sâu sắc

những kiến thức cơ bản của môn học mình đảm nhiệm, đồng thời tự bổ sung

thường xuyên vốn kiến thức của mình và có định hướng rõ ràng.

+ Người thầy phải nắm vững bản chất và các quy luật của quá trình dạy học

để có thể tìm ra hoặc ứng dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng

dạy của mình.

Xu hướng dạy học lấy người học làm trung tâm thì vai trò của người thầy

luôn sử dụng các phương pháp đó là: Đặt câu hỏi và trả lời những câu hỏi của học

sinh. Kích thích sự tư duy, tò mò và hứng thú của người học.

+ Khuyến khích người học tự đánh giá kết quả công việc của mình và tìm

cách làm tốt hơn.

 

   Việc dạy học lấy người học làm trung tâm sẽ:

+ Hướng cho người học sớm thích ứng với đời sống xã hội.

+ Hòa nhập cộng đồng.

+ Tôn trọng nhu cầu, lợi ích, tiềm năng của người học.

+ Người học được quyền và được khích lệ các ý tưởng riêng, cách làm riêng.

+ Người học tự tìm tri thức mới.

+ Giúp người học tự phát triển cao về nhận thức, kỹ năng và tình cảm hành

vi.

+  Giúp cho người học tự tin hơn.

+ Giúp người học tự xác định các giá trị tri thức mới của mình.

  Khi người học đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy và học thì quá

trình này là quá trình hoạt động tri thức sáng tạo. Ở đây, người thầy là người

hướng dẫn và luôn luôn đi đầu trong mọi hoạt động sáng tạo của cả quá trình học

tập.

Đối với sinh viên chuyên ngành giáo dục trính trị trong việc học môn kinh tế

chính trị hiện nay cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực để phù hợp với phương

pháp học mới. sinh viên thể hiện sự năng động, sang tạo, nhạy bén của mình qua

từng giờ học và qua các buổi semina.

Qua các buổi thảo luận có thể thấy các bạn sinh viên chuyên ngành giáo dục

chính trị đã biết chọn lọc kiến thức hình ảnh phù hợp, nội dung trình bày ngắn gọn,

logic, đảm bảo được kiến thức. thực tế cho thấy ngày nay, để thích ứng với cơ chế

thị trường sinh viên đã có những chuyển biến về mục đích, động cơ học. Thay cho

tâm lí ỷ lại là sự tháo vát, tự xoay xở. Cùng với những điều chỉnh trong xã hội về

sử dụng lao động, tiền lương, đãi ngộ, khắc phục tiêu cực. Thanh niên ngày nay đã

ý thức được rằng học giỏi trong nhà trường đồng nghĩa với thành đạt trong cuộc

 

đời, phấn đấu trong học tập là con đường tốt nhất để mỗi thanh niên đạt tới vị trí

kinh tế, xã hội phù hợp với năng lực của họ. Điều này đòi hỏi giáo viên phải thay

đổi nhiều về nội dung, phương pháp đào tạo để có những sản phẩm ngày càng tốt

hơn cung cấp cho thị trường lao động. Việc dạy học lấy người học làm trung tâm

ngày càng có thuận lợi để phát triển nhanh chóng.

Từ thực tiễn giảng dạy tôi thấy xu hướng dạy học lấy người học làm trung

tâm về mặt vĩ mô phải thỏa mãn được hai yêu cầu cơ bản là:

Một là sản phẩm hệ thống giáo dục quốc dân và nhà truờng đào tạo ra đáp

ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế xã hội. 

Hai là chú ý đầy đủ lợi ích của người học, tức là quan tâm đến các đặc điểm

tâm sinh lí và các điều kiện kinh tế xã hội của người học, tạo cho học sinh có niềm

vui và hạnh phúc trong học tập.

   Về mặt vi mô trong quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm gồm 4

điểm cơ bản sau:

Thứ nhất: Việc dạy học phải xuất phát từ đầu vào của người học, tức là từ

nhu cầu, động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học. Ở đây, cần thấy người học

đang tồn tại, với những ưu điểm và nhược điểm, những điều chưa biết và đã biết.

Phải tiến hành việc học tập trên cơ sở hiểu biết năng lực đã có của người học.

Thứ hai: Cần đòi hỏi người học tham gia tích cực vào quá trình học tập,

không tiếp thu một cách thụ động. Người học cần tích cực suy nghĩ, tích cực tự

giác trong hoạt động.

  Thứ ba: Thực hiện phân hóa, chú ý đến tư duy của từng học sinh, không gò

bó theo cách suy nghĩ đã định trước của giáo viên.

 

Thứ tư: Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để người học tự kiểm tra,

tự đánh giá quá trình học tập của mình tiến tới tự đào tạo và giải quyết các vấn đề

lí luận và thực tiễn một cách độc lập, sáng tạo.

Trong quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm, người thầy đóng vai

trò rất quan trọng. Muốn thực hiện dạy học lấy người học làm trung tâm, người

thầy vừa phải chú ý đến người học, vừa phải chú ý đến điều phải học. Giáo viên là

người hướng dẫn, vì vậy người thầy phải không ngừng vươn lên học tập suốt đời

để làm gương tốt cho người học. Người thầy phải là người có khả năng tổ chức,

điều khiển mọi hoạt động của học sinh, giúp học sinh học tập tốt.

Khi đó quyền lực của giáo viên không còn mà sẽ là việc khẳng định năng lực

của giáo viên góp phần vào sự phát triển cho người học thông qua sự tham gia tích

cực của các em. Một giáo viên sáng tạo là người biết giúp đỡ người học tiến bộ

nhanh chóng trên con đường tự học. Giáo viên phải là người hướng dẫn, người cố

vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức.

Vấn đề “dạy học lấy người học làm trung tâm” được hiểu đúng và đầy đủ

trong trường hợp không chỉ có người dạy mà cả người học thấy rõ được quá trình

dạy và học luôn gắn liền với đời sống xã hội.

 Dạy học lấy người học làm trung tâm cần phải thay đổi quan trọng là người

thầy nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới phương pháp. Tuy nhiên là rất khó

từ bỏ các phương pháp đã quen dùng. Do đó, muốn thực hiện đổi mới phương pháp

dạy học thì trước hết là bản thân mỗi giáo viên, giảng viên phải tự ý thức để chủ

động từ bỏ các phương pháp dạy học truyền thống đã thành thói quen để chuyển

hẳn sang các phương pháp dạy học mới, hiện đại.

Mỗi giảng viên phải có tư tưởng lý luận tốt, có trình độ phẩm chất, năng lực,

có bản lĩnh vững vàng, xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, tạo lòng say mê

của cả thầy và trò, luôn gương mẫu đi đầu trong các công tác đặc biệt là giáo dục

 

đào tạo. Các bài giảng được biên soạn theo xu hướng tích cực, có ứng dụng công

nghệ thông tin trong từng học phần, phải am hiểu được đặc thù nghề nghiệp đó là:

Nghề giáo, ngoài những kiến thức chuyên môn, còn phải có tâm, có tài và có tình.

Nếu tài yếu, tâm thiếu thì chỉ có bám nghề mà không làm được trọn nghiệp.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung

ương, khóa VI.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành

Trung ương, khóa VI.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X

7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

 

11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

Chuyên mục phụ

  • Thông báo
  • Tin tức - Sự kiện

    Dolor pretium adipiscing Nam Curabitur nulla Duis id tellus at et. Dui orci Sed dolor Aenean tincidunt vitae vitae sed mattis sed. Purus Vivamus dapibus lorem Vestibulum dis pellentesque tristique dui Morbi hendrerit. Eu eu eros interdum tempus facilisi orci mollis netus semper massa. Consequat sed pellentesque cursus et vel nunc lacinia quis semper senectus. Felis Donec libero nibh Sed velit a Nulla elit dui porttitor.