Tin-Bài-Ảnh

VAI TRÒ CỦA CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN

 

 

ThS.Nguyễn Thị Hương

Cố vấn học tập (CVHT) có vai trò rất quan trọng trong đào tạo theo học

chế tín chỉ. Theo quy chế 43 của Bộ Giáo dục và đào tạo, CVHT là người tư vấn

và hỗ trợ sinh viên phát huy tối đa khả năng học tập, lựa chọn học phần phù hợp

để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp; theo dõi thành tích học tập của sinh viên nhằm

giúp sinh viên điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra một lựa chọn đúng trong quá

trình học tập; quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo lớp được phân công phụ trách đảm

bảo các quyền và nghĩa vụ của sinh viên.

Công tác quản lý sinh viên là một mặt quan trọng trong quá trình thực

hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của nhà trường. Quản lý tốt sinh viên sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn đồng

thời tạo ra môi trường tốt cho việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách, tác

phong và lối sống cho sinh viên. Hiện nay, SV đang học tập trung tại trường Đại

học Tây Bắc không chỉ ở trong các khu ký túc xá của nhà trường mà rất nhiều

em ở ngoại trú và tạm trú trong các xóm trọ xung quanh trường. Thời gian SV

lên giảng đường của trường để học tập, sinh hoạt ít so với tổng thời gian trong

ngày. Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ (mỗi SV có một kế hoạch học

tập, lịch học khác nhau) đã làm cho những người quản lý như Ban cán sự lớp,

Trợ lý khoa, cố vấn học tập gặp nhiều khó khăn trong việc gặp gỡ, kiểm tra,

triển khai các chủ trương, chính sách, cung cấp và trao đổi thông tin lẫn nhau.

Các tệ nạn xã hội bên ngoài như cờ bạc, mại dâm, ma túy, lô đề ngày một gia

tăng; sinh viên xa gia đình không có người quản lý dễ bị lôi kéo, tham gia. Vậy

CVHT người được lãnh đạo khoa tin tưởng gửi gắm nhiệm vụ sát sao với sinh

viên lớp mình phụ trách cần làm gì để quản lý sinh viên một cách hiệu quả? Với

 

kinh nghiệm từng làm CVHT lớp K55ĐH GDCT A tôi xin chia sẻ một vài kinh

nghiệm sau:

1. CVHT cần đi kiểm tra, nắm tình hình SV tạm trú trên các địa bàn: Thu

thập được các thông tin của sinh viên ở tạm trú như giá phòng trọ, giá tiền điện,

tiền nước, các vụ việc liên quan đến SV. Những khó khăn, vất vả của SV khi

các em rời khỏi sự giám sát, giúp đỡ của gia đình sống tự lập; Những mặt trái

của cơ chế thị trường, môi trường sinh hoạt ngoài cổng trường nơi các em đang

tạm trú, các tệ nạn xã hội, lối sống, nếp nghĩ của tuổi trẻ sống trong bối cảnh lối

sống phương Tây đã có những ảnh hưởng nhất định đến sinh viên.

2. Động viên cũng như giúp đỡ sinh viên kịp thời: Với năm đầu tiên, sinh

viên rất bỡ ngỡ với hình thức học tập khác hẳn với lúc còn học phổ thông, với

bạn mới, thầy cô mới, làm quen với cuộc sống mới khi xa nhà,.. Phần lớn các

sinh viên còn rụt rè, thụ động và chưa xác định rõ ràng phương pháp học tập.

Đặc biệt, một số sinh viên đến từ các vùng nông thôn chưa biết sử dụng internet

tìm thông tin hay đăng ký môn học trực tuyến trên website, cách thức học tín

chỉ là hoàn toàn xa lạ. CVHT cần hướng dẫn sinh viên cách thức đăng ký môn

học từng học kỳ qua mạng, tư vấn cho sinh viên nên chọn học phần tự chọn nào

là phù hợp với chuyên ngành mà mình đang học.

Ngoài ra, CVHT còn hướng cho các em động lực học tập, phương pháp

học tập khoa học, giữ gìn sức khỏe (ăn gì cho đảm bảo sức khỏe, ngủ đủ giấc,

chi tiêu hợp lý,…) là rất cần thiết. Những điều tưởng chừng như đơn giản nhưng

các em không hẳn biết hết.

3. Ngay từ đầu năm thứ nhất, CVHT nên thiết lập sổ hồ sơ thông tin sinh

viên bao gồm: hình ảnh, họ tên, địa chỉ, điện thoại, email,… và tạo facebook

của lớp để có thể liên lạc sinh viên nhanh chóng. Đồng thời, CVHT trực tiếp xin

địa chỉ, số điện thoại của phụ huynh, đặc biệt tìm hiểu rõ hoàn cảnh gia đình của

một số các sinh viên có biểu hiện lơ là trong học tập, kịp thời báo tình hình học

tập cho phụ huynh vào các thời điểm giữa, cuối mỗi học kỳ.

 

Ngoài ra, CVHT cần tạo một địa chỉ điện tử riêng cho lớp chia sẻ thông

tin, tâm tư, nguyện vọng, và giúp CVHT gần gũi với lớp hơn.

4. Lên kế hoạch và hướng phấn đấu của lớp trong cả năm học

Đầu mỗi năm học CVHT cùng với lớp lên kế hoạch phấn đấu hạn chế SV

thi lại và vi phạm nội quy của nhà trường. Hướng dẫn sinh viên tham gia các

hoạt động ngoại khóa, các phong trào của Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên để có

thể học các kỹ năng sống cần thiết.

CVHT khuyến khích các em tham gia vào các đội bóng đá, bóng chuyền

của lớp, khoa; giúp các em nhận thức đây là cách tuyệt vời để giữ gìn sức khỏe,

giải tỏa căng thẳng sau những giờ lên lớp.

Cuối mỗi học kỳ, CVHT tham gia cùng lớp thực hiện đánh giá kết quả

rèn luyện sinh viên. Giúp đỡ, tư vấn cho sinh viên làm thủ tục giải quyết công

việc bảo lưu kết quả, chế độ, chính sách, học bổng,…

5. Thường xuyên hỏi thăm tình hình học tập của lớp 

CVHT họp lớp định kỳ 3 lần/1 học kỳ và có thể họp đột xuất, đồng thời

qua những kênh liên lạc riêng như email, facebook, điện thoại để có thể kịp thời

trao đổi thông tin và giúp đỡ, hướng dẫn sinh viên giải quyết các vướng mắc

trong học tập và cuộc sống.

Bên cạnh đó, CVHT cũng trao đổi tình hình học tập của lớp với các thầy

cô bộ môn khác, để có hướng điều chỉnh phương pháp giảng dạy cũng như

phương pháp học tập cho thích hợp.

6. Tổ chức lớp thành một lực lượng tự quản, đoàn kết, phát huy kỹ năng

học theo nhóm

CVHT chọn ra ban cán sự lớp, ban chấp hành Đoàn, Hội để hỗ trợ CVHT

trong việc quản lý lớp cũng như phổ biến các phong trào.

 

Ngay từ năm đầu CVHT cần thành lập các nhóm học tập để các sinh viên

giỏi phụ đạo cho các sinh viên yếu kém. Với đặc thù khoa Lý luận Chính trị số

lưu HS lào theo học ngày càng đông thì CVHT càng phải quan tâm hơn tới các

nhóm học tập này. Cần chọn lọc các bạn SV người Việt học giỏi, ý thức tốt

nhiệt tình hỗ trợ các bạn lưu HS Lào để các bạn Lào học tập tốt hơn đồng thời

góp phần làm cho mối quan hệ Việt – Lào ngày càng thắm thiết hơn. CVHT cần

nhấn mạnh với các em SV Việt Nam rằng phần đóng góp này sẽ được cộng

thêm điểm rèn luyện để khuyến khích các em tham gia. Với SV năm thứ 3 cần

đôn đốc các em tích cực học tập để đảm bảo tiến độ khi hết học kì 7 số tín chỉ

tích lũy phải từ 120 tín và tổng điểm phải từ 2.0 trở lên. Nếu không đảm bảo

điều đó các em sẽ không được đi thực tập cùng tập thể lớp, trường. Với SV năm

cuối CVHT sẽ rà soát nhắc nhở sinh viên trả nợ môn học để kịp thời xét tốt

nghiệp.

Cố vấn học tập là cầu nối giữa sinh viên với nhà Trường, với khoa, với

phụ huynh. Để làm tốt công tác quản lý SV thì không phải người GV chỉ cần

hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ chung, mà còn phải thật sự tâm huyết, nhiệt

tình, gần gũi, chia sẻ, quan tâm với lớp để hiểu rõ sinh viên và giúp đỡ các em

khi cần thiết.

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO TÍNH CHỦ ĐỘNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

 

 

Người viết: Th.S Vũ Diệu Linh

Theo cương lĩnh của văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản

Việt Nam lần thứ XI đã nêu “…Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu

cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa

chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan

hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy

người. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, chậm đổi

mới…”.

Do vậy xu thế áp dụng việc dạy học lấy người học làm trung tâm đang trở

thành một xu thế chính, đó là cách thức dạy học hướng vào người học nhằm  nâng

cao tính chủ động của người học, chiếm lĩnh tri thức, kích thích sự ham hiểu biết

của người học, luôn coi người học vừa là mục đích, vừa là chủ thể của quá trình

dạy học. Và môn học kinh tế chính trị Mác – Lênin cũng không nằm ngoài xu thế

này.

  Bởi vì, quá trình dạy học luôn có hai chủ thể: Thầy và Trò. Cả hai chủ thể

này đều chủ động, tích cực bằng hoạt động của mình hướng tới tri thức. Thầy thì

hoạt động truyền đạt tri thức; Trò là hoạt động chiếm lĩnh, đón nhận tri thức và

biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động trong nhận thức và thực

tiễn. Đây là quan điểm dạy học mà đa số các nước có nền giáo dục tiên tiến quan

tâm áp dụng. Chỉ xin nhấn mạnh rằng hoạt động của thầy và trò đều là hoạt động

có ý thức dưới sự chỉ huy của ý thức để đạt mục tiêu của mình. Vì vậy, kết quả

nhận thức của họ trong các quá trình nhận thức, trước khi đạt đến mức chuyển hóa

được thành phương pháp, là công cụ cho họ thực hiện mục đích của mình. Do vậy,

 

khi bàn về phương pháp dạy học, chúng ta phải bàn đến cả phương pháp dạy của

người thầy cũng như phương pháp học của người học. Sự phù hợp của hai phương

pháp này cho chúng ta hiệu quả thực sự của việc dạy và học.

Thực hiện chương trình dạy học lấy người học làm trung tâm thì hoạt động

của thầy và trò tương ứng như sau:

- Người học tự khai phá tri thức, tự nghiên cứu; thầy chỉ hướng dẫn và cung

cấp thông tin.

- Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự kiểm tra mình;

người thầy chỉ làm trọng tài.

- Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh, thầy chỉ làm cố vấn.

  Do đó. Để thực hiện tốt quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm, thì

vai trò của người thầy khi đó là:

+ Không thể mờ nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn, người thầy vẫn là linh hồn

của giờ học sáng tạo và sinh động. Bởi vì, để có thể làm người hướng dẫn, cung

cấp thông tin, trọng tài hay cố vấn v.v. Thì người thầy phải có hiểu biết sâu sắc

những kiến thức cơ bản của môn học mình đảm nhiệm, đồng thời tự bổ sung

thường xuyên vốn kiến thức của mình và có định hướng rõ ràng.

+ Người thầy phải nắm vững bản chất và các quy luật của quá trình dạy học

để có thể tìm ra hoặc ứng dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng

dạy của mình.

Xu hướng dạy học lấy người học làm trung tâm thì vai trò của người thầy

luôn sử dụng các phương pháp đó là: Đặt câu hỏi và trả lời những câu hỏi của học

sinh. Kích thích sự tư duy, tò mò và hứng thú của người học.

+ Khuyến khích người học tự đánh giá kết quả công việc của mình và tìm

cách làm tốt hơn.

 

   Việc dạy học lấy người học làm trung tâm sẽ:

+ Hướng cho người học sớm thích ứng với đời sống xã hội.

+ Hòa nhập cộng đồng.

+ Tôn trọng nhu cầu, lợi ích, tiềm năng của người học.

+ Người học được quyền và được khích lệ các ý tưởng riêng, cách làm riêng.

+ Người học tự tìm tri thức mới.

+ Giúp người học tự phát triển cao về nhận thức, kỹ năng và tình cảm hành

vi.

+  Giúp cho người học tự tin hơn.

+ Giúp người học tự xác định các giá trị tri thức mới của mình.

  Khi người học đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy và học thì quá

trình này là quá trình hoạt động tri thức sáng tạo. Ở đây, người thầy là người

hướng dẫn và luôn luôn đi đầu trong mọi hoạt động sáng tạo của cả quá trình học

tập.

Đối với sinh viên chuyên ngành giáo dục trính trị trong việc học môn kinh tế

chính trị hiện nay cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực để phù hợp với phương

pháp học mới. sinh viên thể hiện sự năng động, sang tạo, nhạy bén của mình qua

từng giờ học và qua các buổi semina.

Qua các buổi thảo luận có thể thấy các bạn sinh viên chuyên ngành giáo dục

chính trị đã biết chọn lọc kiến thức hình ảnh phù hợp, nội dung trình bày ngắn gọn,

logic, đảm bảo được kiến thức. thực tế cho thấy ngày nay, để thích ứng với cơ chế

thị trường sinh viên đã có những chuyển biến về mục đích, động cơ học. Thay cho

tâm lí ỷ lại là sự tháo vát, tự xoay xở. Cùng với những điều chỉnh trong xã hội về

sử dụng lao động, tiền lương, đãi ngộ, khắc phục tiêu cực. Thanh niên ngày nay đã

ý thức được rằng học giỏi trong nhà trường đồng nghĩa với thành đạt trong cuộc

 

đời, phấn đấu trong học tập là con đường tốt nhất để mỗi thanh niên đạt tới vị trí

kinh tế, xã hội phù hợp với năng lực của họ. Điều này đòi hỏi giáo viên phải thay

đổi nhiều về nội dung, phương pháp đào tạo để có những sản phẩm ngày càng tốt

hơn cung cấp cho thị trường lao động. Việc dạy học lấy người học làm trung tâm

ngày càng có thuận lợi để phát triển nhanh chóng.

Từ thực tiễn giảng dạy tôi thấy xu hướng dạy học lấy người học làm trung

tâm về mặt vĩ mô phải thỏa mãn được hai yêu cầu cơ bản là:

Một là sản phẩm hệ thống giáo dục quốc dân và nhà truờng đào tạo ra đáp

ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế xã hội. 

Hai là chú ý đầy đủ lợi ích của người học, tức là quan tâm đến các đặc điểm

tâm sinh lí và các điều kiện kinh tế xã hội của người học, tạo cho học sinh có niềm

vui và hạnh phúc trong học tập.

   Về mặt vi mô trong quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm gồm 4

điểm cơ bản sau:

Thứ nhất: Việc dạy học phải xuất phát từ đầu vào của người học, tức là từ

nhu cầu, động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học. Ở đây, cần thấy người học

đang tồn tại, với những ưu điểm và nhược điểm, những điều chưa biết và đã biết.

Phải tiến hành việc học tập trên cơ sở hiểu biết năng lực đã có của người học.

Thứ hai: Cần đòi hỏi người học tham gia tích cực vào quá trình học tập,

không tiếp thu một cách thụ động. Người học cần tích cực suy nghĩ, tích cực tự

giác trong hoạt động.

  Thứ ba: Thực hiện phân hóa, chú ý đến tư duy của từng học sinh, không gò

bó theo cách suy nghĩ đã định trước của giáo viên.

 

Thứ tư: Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để người học tự kiểm tra,

tự đánh giá quá trình học tập của mình tiến tới tự đào tạo và giải quyết các vấn đề

lí luận và thực tiễn một cách độc lập, sáng tạo.

Trong quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm, người thầy đóng vai

trò rất quan trọng. Muốn thực hiện dạy học lấy người học làm trung tâm, người

thầy vừa phải chú ý đến người học, vừa phải chú ý đến điều phải học. Giáo viên là

người hướng dẫn, vì vậy người thầy phải không ngừng vươn lên học tập suốt đời

để làm gương tốt cho người học. Người thầy phải là người có khả năng tổ chức,

điều khiển mọi hoạt động của học sinh, giúp học sinh học tập tốt.

Khi đó quyền lực của giáo viên không còn mà sẽ là việc khẳng định năng lực

của giáo viên góp phần vào sự phát triển cho người học thông qua sự tham gia tích

cực của các em. Một giáo viên sáng tạo là người biết giúp đỡ người học tiến bộ

nhanh chóng trên con đường tự học. Giáo viên phải là người hướng dẫn, người cố

vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức.

Vấn đề “dạy học lấy người học làm trung tâm” được hiểu đúng và đầy đủ

trong trường hợp không chỉ có người dạy mà cả người học thấy rõ được quá trình

dạy và học luôn gắn liền với đời sống xã hội.

 Dạy học lấy người học làm trung tâm cần phải thay đổi quan trọng là người

thầy nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới phương pháp. Tuy nhiên là rất khó

từ bỏ các phương pháp đã quen dùng. Do đó, muốn thực hiện đổi mới phương pháp

dạy học thì trước hết là bản thân mỗi giáo viên, giảng viên phải tự ý thức để chủ

động từ bỏ các phương pháp dạy học truyền thống đã thành thói quen để chuyển

hẳn sang các phương pháp dạy học mới, hiện đại.

Mỗi giảng viên phải có tư tưởng lý luận tốt, có trình độ phẩm chất, năng lực,

có bản lĩnh vững vàng, xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, tạo lòng say mê

của cả thầy và trò, luôn gương mẫu đi đầu trong các công tác đặc biệt là giáo dục

 

đào tạo. Các bài giảng được biên soạn theo xu hướng tích cực, có ứng dụng công

nghệ thông tin trong từng học phần, phải am hiểu được đặc thù nghề nghiệp đó là:

Nghề giáo, ngoài những kiến thức chuyên môn, còn phải có tâm, có tài và có tình.

Nếu tài yếu, tâm thiếu thì chỉ có bám nghề mà không làm được trọn nghiệp.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung

ương, khóa VI.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành

Trung ương, khóa VI.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X

7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

 

11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị quốc gia, H.2011

XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH Ở VÙNG VEN THÀNH PHỐ SƠN LA

 

 

Ts. Phạm Thu Hà

I. Đặt vấn đề

Biến đổi xã hội là một trong những chủ đề quan trọng được ngành

khoa học xã hội học quan tâm nghiên cứu. Mọi xã hội - cũng giống như

tự nhiên - không ngừng biến đổi. Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá

nào, cho dù có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn luôn

biến đổi. Đặc biệt trong xã hội ngày nay, sự biến đổi xã hội còn diễn ra

nhanh chóng và mạnh mẽ hơn. Biến đổi xã hội được hiểu là một quá trình

qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết

chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay đổi theo thời gian [Xã hội

học, Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, Nxb ĐH Quốc Gia, Hà Nội, 2001].

Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy biến động, trong đó Gia

đình - đơn vị cơ bản cấu thành nên xã hội cũng đã và đang có những thay

đổi rõ rệt, mạnh mẽ trên nhiều khía cạnh. Cùng với sự biến đổi của xã

hội, thiết chế gia đình cũng không ngừng vận động và biến đổi. Sự biến

đổi từ các giá trị truyền thống trong hôn nhân và gia đình sang các giá trị

hiện đại là cả một quá trình mang đậm dấu ấn của bối cảnh kinh tế, văn

hoá, xã hội. Dưới tác động đa chiều của nhiều yếu tố ta thấy quy mô gia

đình có xu hướng hạt nhân hoá và loại hình gia đình có xu hướng tăng lên

về số lượng. Đời sống gia đình hiện nay có nhiều xung đột với mức độ và

diễn biến phức tạp. Tình trạng ngoại tình, kết hôn bất hợp pháp, bạo lực

gia đình, ly thân, ly hôn… có chiều hướng gia tăng trở thành vấn đề xã

hội nan giải; sống chung không kết hôn, không muốn sinh con; các thành

viên trong gia đình ít có thời gian bên nhau, vai trò của cha mẹ trong cuộc

sống hiện đại đang có biểu hiện suy giảm ở nhiều gia đình... Tất cả đã ảnh

hưởng xấu đến sự ổn định của thiết chế gia đình trong bối cảnh hiện nay.

 

2

 

Gia đình Việt Nam không nằm ngoài xu hướng đó. Trong quá trình

phát triển kinh tế nhiều thành phần và thực hiện hội nhập quốc tế, bên

cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với việc

xây dựng gia đình bền vững và phát huy vai trò của người phụ nữ trong

việc thực hiện các chức năng gia đình. Công cuộc đổi mới đất nước do

Đảng lãnh đạo đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần của nhiều gia đình. Bên cạnh những thành quả to lớn đó

vẫn còn nhiều khó khăn, bất trắc đang nảy sinh, tồn tại đã gây sự bất ổn

cho gia đình và xã hội. Lối sống thực dụng, ích kỷ, đề cao cuộc sống

hưởng thụ, cổ xuý cho tư tưởng tự do, phát triển cá nhân... đang là nguy

cơ làm mai một, xói mòn nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Thách thức lớn nhất đối với gia đình Việt Nam trong những năm đầu của

thế kỷ này là cùng với việc tiếp nhận những giá trị nhân văn mới trong xu

thế hội nhập với cộng đồng quốc tế, đồng thời vẫn phải giữ được bản sắc

văn hoá dân tộc và phát huy những truyền thống tốt đẹp của gia đình, tạo

điều kiện cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.

Sơn La là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam. Với

dân số trên 1 triệu người, trong đó có 82% là dân tộc thiểu số, bao gồm

các dân tộc: Thái, Mông, Kinh, Dao, Khơmú…Cho đến nay, Sơn La vẫn

là một trong những tỉnh đặc biệt khó khăn, nhất là những xã ở vùng sâu,

vùng xa, vùng biên giới. Tuy nhiên, trong bối cảnh CNH, HĐH đang diễn

ra mạnh mẽ trên cả nước, tỉnh Sơn La cũng đã nỗ lực và gặt hái được

nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra những chuyển biến

mạnh mẽ về xã hội. Tất nhiên, những chuyển biến đó không thể không

tác động sâu sắc đến thiết chế gia đình - một thiết chế bền vững, lâu đời

nhưng cũng rất nhạy cảm với những thay đổi của xã hội. Trước sự thay

đổi đó, nhằm tìm hiểu vài nét về thực trạng biến đổi hôn nhân và gia đình

ở vùng ven Thành phố Sơn La, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Xu hướng

biến đổi hôn nhân và gia đình vùng ven Thành phố Sơn La”.

 

3

 

II. NỘI DUNG

2.1. Khái niệm hôn nhân và gia đình

2.1.1. Khái niệm về hôn nhân

Việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quan

trọng. Nó phản ánh quan điểm chung nhất về hôn nhân; tạo cơ sở lý luận

cho việc xác định bản chất pháp lý của hôn nhân; xác định nội dung,

phạm vi điều chỉnh của các qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.

Trong thực tiễn khoa học Luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và

nước ngoài, nhiều khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật, các nhà

nghiên cứu luật học đưa ra, chẳng hạn:

Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common law), phổ

biến một khái niệm cổ điển mang quan niệm truyền thống về hôn nhân

của Cơ đốc giáo, do Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ án

Hyde v Hyde (1866): “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa

một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào

khác” (P. M . Promley. Family law. 5th edition. London Butterworth.

1976. Tr 15). Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu âu

và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam

và một người nữ với tư cách là vợ chồng” (Leonard & Elias.

Berkely. Family law Dictionary. Cali. Nolo 1990), hoặc: “Hôn nhân là

hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người

nữ với tư cách là vợ chồng” (Dictionary of law – Third edition. Petter

collin publishing. 2000).

Ở Việt Nam, các giáo trình Dân luật dưới chế độ Sài gòn cũ chưa

đưa ra khái niệm cụ thể về hôn nhân mà phần nhiều mới đưa ra khái niệm

“giá thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông

và một người đàn bà theo thể thức luật định” (Nguyễn Quang

Quýnh. Dân luật. Quyển 1 Bộ văn hoá giáo dục. Viện đại học Cần thơ

xuất bản.1968. Tr239) hoặc “giá thú” cũng được hiểu: “sự trai gái lấy

 

4

 

nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho

hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ” (Vũ Văn Mẫu

và Lê Đình Chân, Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật, Tủ sách Đại

học Sài gòn.1968. Tr 100). Theo một số luật gia Sài gòn, khái niệm “giá

thú” bao gồm có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất giá thú là hành vi phối

hợp vợ chồng (kết hôn). Theo nghĩa thứ hai là tình trạng của hai người đã

chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời gian hai người ăn ở với nhau.

Điều 3 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964, Điều 99 Bộ dân luật 1972 ngày

20/12/1972 của Chính quyền Sài gòn cũ qui định: “Không ai được phép

tái hôn nếu giá thú trước chưa đoạn tiêu”. Như vậy, phải chăng các khái

niệm “giá thú” được nêu trên đã bao hàm cả khái niệm về hôn nhân?

Trong pháp Luật HN & GĐ Việt Nam hiện hành, khái niệm hôn

nhân đã được nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn.

Luật HN & GĐ năm 2000 qui định: “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và

chồng sau khi đã kết hôn” (Điểm 6 Điều 8). Còn theo Từ điển giải thích

thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà nội hôn nhân được hiểu

là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc

tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung

sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”.

2.1.2. Khái niệm về gia đình

Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con

người , một thiết chế văn hoá - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và

phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân , quan hệ huyết thống , quan hệ

nuôi dưỡng và giáo dục ... giữa các thành viên .

Khái niệm gia đình luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội. Và ở

những thời kì khác nhau của xã hội, khái niệm gia đình có sự biến đổi

tương ứng, phù hợp với từng giai đoạn đó.

 

5

 

Theo tác giả Lê Thi thì khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một

nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống nảy

sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông

bà, họ hàng, nội ngoại). Gia đình có thể bao gồm một số người được gia

đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên gia

đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình

cảm). Giữa họ có những ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa

nhận và bảo vệ. Đồng thời, trong gia đình có những quy định rõ ràng về

quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các

thành viên.

Theo Levy Strauss (trong từ điển kinh tế - xã hội Pháp) , gia đình

là một nhóm xã hội được quy định bởi đặc điểm thường thấy nhiều nhất

là: hôn nhân, quan hệ huyết thống, những ràng buộc về mặt pháp lý,

nghĩa vụ quyền lợi có tính chất kinh tế, sự cấm đoán tình dục gắn với các

thành viên và những ràng buộc về tình cảm, tâm lý, tình yêu, tình thương

và sự kính trọng, sợ hãi.

Theo Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học: “Gia đình là một trong

những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người,

một thiết chế văn hoá – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát

triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân huyết thống, các quan hệ nuôi dưỡng,

giáo dục ...giữa các thành viên ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo; 2006, tr 246) .

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định: gia đình là tập hợp

những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống

hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi

giữa họ với nhau theo luật định. Đây là quan niệm chính thống của Nhà

nước ta, vừa có tính khoa học vừa là cơ sở pháp lý để giải quyết những

vấn đề liên quan.

2.2. Xu hướng biến đổi trong quan hệ hôn nhân

Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người đã tồn

tại nhiều loại hình hôn nhân như quần hôn, đối ngẫu… Ngày nay, loại

 

6

 

hình hôn nhân phổ biến, thể hiện trình độ phát triển văn minh của loài

người là hôn nhân một vợ, một chồng. Dưới tác động của các nhân tố

kinh tế, văn hoá, xã hội, quan hệ hôn nhân ngày nay có nhiều biến đổi.

Thể chế hôn nhân có xu hướng trở nên kém bền vững hơn do hiện tượng

ly hôn, ly thân, quan hệ tình dục trước hôn nhân và ngoài hôn nhân,

chung sống không kết hôn và sinh con ngoài giá thú ngày càng tăng lên.

Nghiên cứu về xu hướng biến đổi trong quan hệ hôn nhân là một mảng

chủ đề của xã hội học. Bài viết này chủ yếu tập trung vào một số nội

dung cơ bản như: tuổi kết hôn, lý do kết hôn, tìm hiểu trước khi kết hôn,

tiêu chí lựa chọn bạn đời, quyền quyết định kết hôn, nơi ở của các cặp vợ

chồng sau khi kết hôn và làm rõ một số ý kiến người dân về quan niệm

hôn nhân, hạnh phúc và trách nhiệm với gia đình.

2.2.1. Tuổi kết hôn

Một trong những chỉ báo quan trọng nhằm đánh giá xu hướng biến

đổi trong quan hệ hôn nhân là tuổi kết hôn. Trong xã hội truyền thống

vẫn phổ biến quan niệm “nữ thập tam, nam thập lục”, theo đó, khi nữ đến

tuổi 13 và nam đến tuổi 16 là đủ tuổi kết hôn. Ngày nay, nhiều nghiên

cứu về hôn nhân đã chỉ ra xu hướng tuổi kết hôn trung bình lần đầu của

cả nam và nữ đều tăng lên, chỉ báo này còn chịu sự tác động của nhiều

nhân tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo…

Kết quả cuộc điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 do Bộ văn hoá,

thể thao và du lịch kết hợp với Tổng cục thống kê cùng Viện gia đình và

giới thực hiện cho thấy, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người vợ là

21,2 tuổi, người chồng là 23,7 tuổi. Kết quả phân tích số liệu cũng cho

thấy tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nam và nữ có xu hướng tăng

lên theo các giai đoạn và có sự khác biệt giữa các khu vực cư trú, nghề

nghiệp, học vấn. Từ năm 2000 – 2006, tuổi kết hôn trung bình lần đầu

của nam là 25,6 tuổi và nữ là 22,0 tuổi. Tại khu vực nội thành của các

thành phố, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 26,0 tuổi và nữ

 

7

 

23,0 tuổi; ở khu vực nông thôn nam là 23,2 tuổi, nữ là 20,8 tuổi. Những

người làm công việc chuyên môn kỹ thuật cao có tuổi kết hôn trung bình

lần đầu là 25,8 tuổi với nam và 24,1 tuổi với nữ, trong khi nam lao động

giản đơn là 22,9 tuổi và nữ lao động giản đơn là 20,7 tuổi.

Qua đó cho thấy, tuổi kết hôn của nữ thường thấp hơn nam giới;

những người sống ở nông thôn, làm những công việc giản đơn thường có

tuổi kết hôn trung bình thấp hơn những người ở đô thị và có công việc

chuyên môn kỹ thuật.

“…Tôi lấy vợ năm 26, vợ tôi thì 22…” (Nam, sinh năm 1970, Mai

sơn, Sơn La.

“…Tôi lấy chồng năm 21…” (Nữ, sinh năm 1962, Chiềng sinh,

Sơn La)

Ở Sơn La, với hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, ở các

bản vùng sâu, vùng xa, hiện tượng tảo hôn vẫn còn khá phổ biến. Chưa

có nghiên cứu chính thức về độ tuổi kết hôn của nhóm dân tộc thiểu số ở

Sơn La, nhưng bằng sự trải nghiệm và quan sát tôi thấy người dân nơi

đây vẫn kết hôn khá sớm.

2.2.2. Lý do kết hôn

Cũng theo kết quả điều tra gia đình năm 2006, lý do “đến tuổi thì

lấy” có tỷ lệ trả lời cao nhất trong nhóm có độ tuổi 18 - 60 (31,5%), điều

đó cho thấy hôn nhân là một hiện tượng tất yếu và là giá trị cuộc sống đối

với những người Việt Nam trưởng thành. Bên cạnh đó, hôn nhân còn

được kì vọng là nơi nâng đỡ đời sống vật chất và tinh thần cho các cá

nhân. 27,4% số người được hỏi cho biết lý do kết hôn là để “bản thân có

chỗ dựa về vật chất và tinh thần”; 15,6% số người cho biết lý do “để gia

đình có người chăm sóc, giúp đỡ”.

Kết quả điều tra còn cho thấy, tỷ lệ các cuộc hôn nhân do sự sắp

đặt của cha mẹ cao hơn ở những người cao tuổi, phụ nữ, người thu nhập

thấp và những người sống ở khu vực nông thôn. Điều này cho thấy, thế

 

8

 

hệ trẻ, nam giới, người sống ở đô thị chủ động trong cuộc hôn nhân của

mình hơn so với người cao tuổi, phụ nữ, người ngèo và người sống ở

nông thôn.

“Gia đình hai bên chúng tôi đã có mối thâm giao lâu đời, từ khi

chúng tôi còn bé, bố mẹ hai bên đã có ý định trở thành thông gia, khi

trưởng thành chúng tôi cũng không tự tìm hiểu nhiều về nhau, các cụ hai

bên cho lấy thì lấy nhau thôi” (cười). (Nam, sinh năm 1939, Chiềng

Xôm, Sơn La)

“Tôi gặp ông nhà do được một người bạn giới thiệu, hồi đó tôi mới

học xong trung cấp, đang làm ở ngân hàng, anh ấy thì là bộ đội biên

phòng, gặp nhau hơn năm thì chúng tôi làm đám cưới, cũng là duyên

trời, do giới thiệu nhưng ngay lần gặp đầu chúng tôi đã có cảm tình với

nhau rồi”(Nữ, sinh năm 1962, Chiềng Sinh, Sơn La).

2.2.3. Tìm hiểu trước khi kết hôn

Trong xã hội truyền thống, hôn nhân thường theo sự sắp đặt của họ

hàng, gia đình, cha mẹ, con cái ít có xu hướng được lựa chọn hôn nhân

cho mình và cũng chính vì vậy mà họ ít có cơ hội để được tìm hiểu nhau

trước khi tiến đến hôn nhân. Nhưng ngày nay, mọi thứ đang dần thay đổi

và các cá nhân có xu hướng lựa chọn bạn đời trên cơ sở hôn nhân tự

nguyện. Việc tìm hiểu bạn đời chủ yếu do cá nhân quyết định và vai trò

của cha mẹ có xu hướng giảm đi đáng kể.

Theo kết quả điều tra định lượng của Chương trình hợp tác nghiên

cứu Thuỵ Điển - Việt Nam, Dự án “Gia đình nông thôn Việt Nam trong

chuyển đổi” cho thấy hơn một nửa (50,3%) số người được hỏi khẳng định

là đã “tự tìm hiểu” trước khi đi tới hôn nhân. Trong khi đó bố mẹ giới

thiệu chỉ chiếm 21,0% và người mai mối chỉ chiếm 12,7%.

Tỷ lệ được tự do tìm hiểu trước khi đi đến hôn nhân tăng lên là

điều hoàn toàn phù hợp với xu hướng biến đổi của thời đại. Thế hệ trẻ

ngày nay đã có những suy nghĩ độc lập, tự chủ và chủ động hơn trong

 

9

 

mọi lĩnh vực. Hôn nhân là việc quan trọng, liên quan đến hạnh phúc cả

đời người, do vậy trước khi đi đến quyết định đó, hai bên cần có quá trình

tìm hiểu kỹ lưỡng để hiểu về nhau, đây cũng là cơ sở cho một hôn nhân

bền vững.

“Chúng tôi biết nhau vì cùng địa phương, ở đây môi trường hẹp

nên mọi người đều biết nhau cả… Chúng tôi trải qua quá trình tìm hiểu,

yêu đương quãng 2 năm, trước đó tôi cũng đã yêu vài cô khác, khi cảm

thấy thực sự phù hợp thì mới quyết định làm đám cưới” (Nam, sinh năm

1970, Mai Sơn, Sơn La).

Hôn nhân trên cơ sở tình yêu tự nguyện đã góp phần tạo cơ hội cho

mỗi cá nhân lựa chọn bạn đời của mình dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau

cũng như tìm hiểu một thời gian rồi mới quyết định đi đến hôn nhân.

2.2.4. Tiêu chí lựa chọn bạn đời

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, sự biến đổi trong đời

sống xã hội thì hệ giá trị, chuẩn mực của mỗi cá nhân cũng như của toàn

xã hội cũng có xu hướng thay đổi. Quan niệm về tình yêu, về hạnh phúc

cũng không còn mộc mạc, đơn giản như trước đây nữa.

Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời là những kỳ vọng hay những mong

đợi về các đặc điểm, phẩm chất, tính cách của người vợ hay người chồng

trong tương lai. Những kỳ vọng này có thể tùy thuộc vào giới tính, nhóm

tuổi, nghề nghiệp, học vấn, mức sống, tôn giáo, dân tộc, môi trường sinh

sống, truyền thống văn hóa…

Theo kết quả cuộc điều tra gia đình năm 2006, ta thấy tiêu chuẩn

lựa chọn bạn đời có sự tiếp nối giữa các thế hệ. Ba tiêu chuẩn được cả

người cao tuổi, trung niên và vị thành niên lựa chọn nhiều nhất là “biết

cách cư xử/tư cách đạo đức tốt”, “Khoẻ mạnh” và “biết cách làm ăn”. Kết

quả nghiên cứu này cũng phù hợp với một số ý kiến của người dân hiện

nay:

 

10

 

“Là người sống mẫu mực, biết làm kinh tế, hết lòng vì vợ vì con,

thương yêu vợ con, biết tâm lý”(Nữ, sinh năm 1962, Chiềng Xôm, Sơn

La).

Phần lớn khi được phỏng vấn, người dân đều mong muốn lựa chọn

cho mình một người bạn đời có phẩm chất đạo đức tốt, là người mà họ có

thể tin tưởng và thật lòng quan tâm đến họ.

“Nói đến các tiêu chí thì nó vô cùng lắm, ai chả muốn những cái

tốt đẹp nhất, nhưng có ai được hoàn thiện cả đâu, đúng không Cô?

(cười), vợ tôi được cái tốt nết nên cả gia đình họ hàng đều quý, cũng nhờ

một tay cô ấy thu vén gia đình,tằn tiện chắt bóp nên mới được như thế

này, cô ấy rất biết chăm sóc tôi và các con, chỉ tội cái hai vợ chồng hay

khắc khẩu, ít khi nói chuyện lâu được với nhau”(Nam, sinh năm 1939,

Chiềng Sinh, Sơn La).

Một số tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời hiện nay đã thay đổi cho phù

hợp với thời hiện đại. Chẳng hạn, có một số tiêu chuẩn được nhiều người

quan tâm đến trong thời kì trước như “có lý lịch trong sạch”, “đồng

hương”, “môn đăng, hộ đối”… có tỷ lệ người lựa chọn ít. Ngày nay,

người ta quan tâm nhiều hơn đến những tiêu chuẩn như “có thu nhập ổn

định”, “có trình độ học vấn”… Đặc biệt, những tiêu chuẩn mới đó được

đề cập đến nhiều hơn ở nhóm đô thị, nhóm có thu nhập cao và nhóm trẻ

tuổi.

Đối với tiêu chuẩn về ngoại hình thì được nam giới và người trẻ

tuổi quan tâm nhiều hơn so với phụ nữ và người già.

“Giới trẻ bây giờ yêu nhau theo cảm tính là nhiều, nhìn thấy xinh

xinh, hay hay là thích và yêu, sống đến bằng này tuổi tôi nhận thấy tính

nết vẫn là quan trọng nhất, vợ chồng phải tâm đầu ý hợp, vợ phải đảm

đang, nết na, xinh đẹp thì nhìn mãi cũng thành bình thường mà xấu thì

nhìn lâu cũng thấy đỡ xấu”(Nam, sinh năm 1939, Chiềng Sinh, Sơn La).

2.2.5. Quyền quyết định kết hôn

 

11

 

Quyền quyết định hôn nhân phản ánh mối quan hệ giữa bố mẹ và

con cái trong việc quyết định hôn nhân của con cái. Trong xã hội truyền

thống, bố mẹ có vai trò quan trọng trong việc quyết định hôn nhân của

con cái và thường diễn ra theo chiều dọc: cha mẹ quyết định và con cái

nghe theo nhưng giờ đây đã có sự thay đổi theo chiều dọc và chiều

ngang: con cái có tham khảo ý kiến của cha mẹ nhưng họ mới chính là

người quyết định hôn nhân của mình. Trong bối cảnh hiện nay, quyền

quyết định đi đến hôn nhân phụ thuộc nhiều vào chính chủ thể của cuộc

hôn nhân đó. Khác với trong các gia đình truyền thống, kết hôn là chuyện

của cả gia đình, dòng họ, vai trò cá nhân của chủ thể cuộc hôn nhân đó ít

được coi trọng. Một quan niệm được cho là chuẩn mực trong xã hội

truyền thống là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”. Một người đàn ông trong

xã hội truyền thống lấy vợ không phải là cho bản thân mình mà là cho cả

dòng họ, vì thế người vợ đó phải do cả dòng họ lựa chọn. Khi phỏng vấn

một số gia đình của các cụ trên 70 tuổi về quá trình đi đến hôn nhân thì

đa số câu trả lời là do được mai mối, giới thiệu. “Thế hệ chúng tôi thì làm

gì có chuyện yêu đương như đám thanh niên bây giờ, nhìn thấy người

khác giới là xấu hổ, đỏ mặt, bố mẹ phải đi tìm hiểu rồi hỏi vợ cho chứ

bản thân cũng chẳng biết”(Nam, sinh năm 1939, Chiềng Sinh, Sơn La).

Không giống trong xã hội truyền thống, xã hội hiện đại đã có nhiều

biến đổi, vai trò cá nhân được coi trọng, vai trò của gia đình, dòng họ, thủ

tục cưới hỏi cũng đã đơn giản hơn, ly hôn và quan hệ tình dục trước hôn

nhân có xu hướng tăng. Khi hỏi một số thanh niên ở địa phương trong

những năm gần đây chịu ảnh hưởng nhiều nhất của yếu tố nào trong việc

lựa chọn người yêu và người bạn đời thì hầu hết đều cho rằng bản thân họ

sẽ tự quyết định mọi việc liên quan đến hạnh phúc của chính bản thân

mình. Có thể thấy rằng sự ảnh hưởng của gia đình, dòng họ đến việc

quyết định kết hôn của những cá nhân thuộc nhóm tuổi dưới 60 ở vùng

ven thành phố Sơn La đã có sự giảm sút đáng kể. Khi hỏi một người nam

 

12

 

giới 42 tuổi về quá trình đi đến hôn nhân, câu trả lời nhận được như sau:

“Tình cảm của chúng tôi xuất phát từ sự gần gũi cùng sống chung tại địa

phương với nhau từ nhỏ, cùng đi làm sau đó quen nhau, thích nhau rồi

yêu nhau, lấy nhau thế thôi”. Còn rất nhiều người ở nhóm tuổi đó cũng

đồng tình rằng hôn nhân của họ là hoàn toàn do tự nguyện tìm hiểu và

đến với nhau.

Như vậy, trong thời kì hiện nay, xu hướng phổ biến là cha mẹ và

con cái cùng tham gia quyết định hôn nhân của con mà cụ thể là con cái

quyết định có hỏi ý kiến cha mẹ (70,8% đối với hôn nhân của các cặp vợ

chồng tuổi từ 18-60). Xu hướng này kết hợp được lợi ích của cá nhân và

gia đình, vì vậy chắc chắn sẽ tồn tại lâu dài ở Việt Nam, nhất là ở vùng

nông thôn.

2.2.6. Nơi ở của các cặp vợ chồng sau kết hôn

Hình thức ở chung và ăn chung với gia đình nhà chồng vẫn rất phổ

biến (64,8% những người trong độ tuổi 18-60 vẫn ở chung và ăn chung

với gia đình chồng). Tuy nhiên cũng đã xuất hiện một bức tranh đa dạng

về các hình thức khác thu xếp cuộc sống vợ chồng sau khi kết hôn như “ở

chung nhưng ăn riêng” (1,3%), “sống riêng hoàn toàn” (23,7%)…

Một điều rõ ràng là ở khu vực thành thị, số các cặp vợ chồng kết

hôn rồi ra ở riêng chiếm tỷ lệ cao hơn so với khu vực nông thôn. Ở thành

thị, phần lớn các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hoặc dịch

vụ nên mô hình gia đình hạt nhân là phù hợp hơn. Ở nông thôn, hoạt

động nông nghiệp vẫn đòi hỏi có nguồn nhân lực đông, hơn nữa truyền

thống con trai nối dõi tông đường vẫn còn khá đậm nét trong văn hoá

nông thôn. Do vậy, sau khi kết hôn, gia đình người con trai, nhất là con

trai trưởng sẽ ở chung luôn với gia đình bố mẹ.

Ở Sơn La, với dân tộc Thái có tục ở rể, sau khi kết hôn người con

trai về nhà vợ ở ba năm, sau đó mới đón vợ về ở nhà mình. Ba năm này là

giai đoạn thử thách của chàng rể. Ngày nay, phong tục này cũng đã thay

 

13

 

đổi, nhiều gia đình không yêu cầu con cái phải trải qua những thử thách

như vậy. Số các cặp vợ chồng sau khi kết hôn ra ở riêng đã có xu hướng

tăng lên. Kết quả phỏng vấn sâu một số trường hợp cũng phù hợp với xu

hướng trên.

Qua quan sát, tìm hiểu thực tế tại địa phương, kết quả cho thấy xu

hướng ở chung với bố mẹ thời gian đầu sau đó xin ra ở riêng là phổ biến.

Việc ra ở riêng có thể giúp cho mối quan hệ vợ chồng thêm gắn bó, được

tự do thể hiện sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hơn nữa gia

đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế và tạo cho mỗi thành viên

trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối để phát triển tự do cá

nhân.

2.3. Một vài xu hướng biến đổi trong gia đình hiện nay

2.3.1. Quy mô gia đình

Các nhà nghiên cứu cho rằng, gia đình Việt Nam truyền thống là

loại gia đình được hình thành từ nền văn hoá bản địa, chứa nhiều yếu tố

dường như bất biến, ít đổi thay. Theo đó, hình thái gia đình phổ biến là

gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ các thành viên liên kết với nhau bằng

chuỗi quan hệ huyết thống và thường bị chi phối bởi chế độ “gia trưởng”.

Trong quá trình phát triển, gia đình truyền thống đã thể hiện được các ưu

điểm về sự gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình; về vấn đề

bảo lưu các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ và phát huy tốt nề nếp

gia phong, gia đạo... Tuy nhiên, gia đình truyền thống lại là một trong

những nhân tố tham gia vào quá trình kìm hãm năng lực phát triển của

các cá nhân, đặc biệt là dưới tác động của quá trình CNH - HĐH, gia đình

truyền thống có vẻ không còn là khuôn mẫu của gia đình hiện đại. Sự giải

thể của cấu trúc gia đình truyền thống và sự hình thành hình thái gia đình

mới là một điều tất yếu.

Theo kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, mô hình hộ gia

 

14

 

đình 2 thế hệ (gồm cha mẹ và con cái) - gia đình hạt nhân tồn tại khá phổ

biến ở Việt Nam (chiếm tỉ lệ 63,4%). Hộ gia đình 3 thế hệ trở lên - gia

đình mở rộng có xu hướng giảm. Trong đó, mô hình gia đình qui mô nhỏ

có xu hướng phổ biến ở thành thị hơn nông thôn và ở nhóm hộ giàu hơn

hộ nghèo; tỷ lệ hộ gia đình có 3 thế hệ ở nông thôn thấp hơn thành thị,

đặc biệt là khu vực nội thành. Nguyên nhân của sự thay đổi này có thể

được lí giải như sau:

Thứ nhất, trong bối cảnh quá trình CNH - HĐH không ngừng được

đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực, hình thái gia đình hạt nhân tỏ ra có nhiều

ưu điểm hơn một số loại hình thái gia đình khác (gia đình mở rộng, gia

đình khuyết...) bởi vì gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập,

gọn nhẹ và có khả năng thích ứng nhanh với các biến chuyển của xã hội

với những đặc điểm sau:

+ Tương đối tự do so với sức ảnh hưởng của tập thể, dòng họ. Sau

khi kết hôn, vợ - chồng không sống chung với bà con nội ngoại mà

chuyển sang nơi ở mới do đó hình thành nên cộng đồng sinh sống độc

lập.

+ Trọng tâm của gia đình đã chuyển từ mối quan hệ ông - bà, cha -

mẹ và con cái sang quan hệ vợ - chồng, cho nên sức hấp dẫn và tính thân

mật về mặt tình cảm giữa hai vợ chồng được đề cao và tính năng quan hệ

về mặt tình cảm của gia đình được tăng cường.

+ Gia đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế và tạo cho

mỗi thành viên trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối để phát

triển tự do cá nhân.

Thứ hai, xã hội CNH, HĐH mang đặc tính “động” rất cao và cần

đến một cơ chế mở để vận hành cung - cầu của lực lượng lao động theo

 

15

 

nguyên tắc của thị trường một cách thuận lợi. Trong đó, tính “động” có

được từ sự tự do lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân rất được quan tâm. Do

vậy, gia đình hạt nhân vợ - chồng là trọng tâm có thể tự do lựa chọn nơi ở

mà không bị sức ép từ dòng họ mang đặc tính gắn liền với nhu cầu của xã

hội công nghiệp.

Thứ ba, xu hướng thanh niên di cư từ nông thôn ra thành thị để làm

việc rồi lập gia đình ở thành thị và điều kiện đất đai, nhà ở tại các thành

thị bị hạn chế

2.3.2. Chức năng gia đình

Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức

năng cơ bản (sinh sản, giáo dục, kinh tế và tâm lí - tình cảm). Do sự va

chạm giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại, sự chênh lệch giữa tốc

độ biến đổi của cơ cấu xã hội và tốc độ biến đổi của gia đình, chức năng

của gia đình Việt Nam có những biến đổi theo phương thức khác với gia

đình phương Tây trong quá trình CNH - HĐH.

Thứ nhất, về chức năng sinh sản, đại bộ phận người dân Việt Nam

vẫn cho rằng sinh con là một chức năng quan trọng của gia đình. Tuy

nhiên, đã có một sự chuyển đổi nhận thức rất rõ về số con. Theo kết quả

điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, tỉ lệ người đồng ý rằng gia đình

phải có nhiều con chiếm tỉ lệ khá thấp (18,6% người cao tuổi, 6,6% người

độ tuổi 18 - 60 và 2,8% vị thành niên), quan niệm “gia đình nhất thiết

phải có con trai” vẫn được một bộ phận đáng kể người dân ủng hộ (gần

37% người độ tuổi 18 - 60), trong đó nhóm dân số nghèo có nhu cầu sinh

con trai nhiều hơn nhóm dân số giàu (45,5% ở nhóm có thu nhập thấp

nhất, 26% ở nhóm có thu nhập cao nhất). Lí do để giải thích vì sao phải

có con trai chủ yếu vẫn là “để có người nối dõi tông đường” (85,7%), “để

có nơi nương tựa lúc tuổi già” (54,2%) và “để có người làm việc lớn, việc

 

16

 

nặng” (23,4%)... Tuy nhiên, đã có khoảng 63% người trong độ tuổi 18 -

60 cho rằng không nhất thiết phải có con trai. Kết quả phân tích cho thấy

đại bộ phận người dân đã tự nhận thức được giá trị của con cái trong cuộc

sống gia đình nói chung, chứ không chỉ đơn thuần thực hiện theo qui định

của chính sách dân số.

Thêm vào đó, cho đến nay cấu trúc xã hội và quan điểm giá trị liên

quan đến vấn đề sinh sản và quan hệ tình dục cũng đã có sự thay đổi. Sự

tự do trong việc mang thai và sinh sản do các tiến bộ của y học mang lại

cho con người, sự tự do trong quan hệ tình dục nhờ vào sự phát triển của

các phương pháp tránh thai và các loại dịch vụ liên quan đến tình dục...

đã góp phần mang lại sự thay đổi trên. Giờ đây tình dục không chỉ mang

ý nghĩa là một phương cách của việc sinh sản mà còn là sự thể hiện của

nhu cầu thể xác tự nhiên của loài người. Đời sống tình dục thỏa mãn đang

trở thành nhân tố chính trong việc làm tăng mức độ thỏa mãn trong đời

sống hôn nhân.

Thứ hai, về chức năng giáo dục - chức năng này được tăng cường

hơn bao giờ hết và trở thành một trách nhiệm nặng nề mà gia đình phải

gánh vác. Trong quá trình CNH - HĐH, nhu cầu về nguồn lao động có

tay nghề tăng cao nên đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng đầy đủ các tư

chất cần thiết. Do đó, tiêu chuẩn của việc dưỡng dục con cái cũng tăng

theo. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đã làm tăng kì vọng xã hội đối với

tiêu chuẩn chất lượng của việc dưỡng dục con cái. Đây cũng chính là lí do

chính thu hút sự quan tâm của cha mẹ đối với việc học của con cái. Tuy

nhiên, sự quan tâm này không giống nhau giữa các khu vực, vùng, miền

và dân tộc. Cha mẹ ở thành thị chăm lo đến việc học của con cao hơn so

với nông thôn. Tây Bắc là vùng có tỉ lệ cha mẹ ít quan tâm hơn so với các

vùng còn lại, người Hmông là dân tộc có tỉ lệ cha mẹ quan tâm tới việc

học của con cái thấp nhất. Ngoài ra cũng cần phải chú ý đến những dữ

 

17

 

kiện sau: các nhóm cha mẹ có học vấn cao và có thu nhập cao thì mức độ

quan tâm đến việc học của con nhiều hơn và trẻ em ở độ tuổi 7 - 14 thì

nhận được sự quan tâm của cha mẹ đến việc học hơn là trẻ em trong độ

tuổi 15 - 17.

Thêm vào đó, chúng ta cần phải thấy rằng trong quá trình xã hội

biến đổi nhanh chóng, trong gia đình đang nảy sinh nhiều xáo trộn trong

chức năng dưỡng dục con cái và xã hội hóa. Hiện tượng gia đình hạt nhân

làm chặn đứng cơ hội truyền thụ những hiểu biết về việc nuôi dạy con cái

từ thế hệ ông bà cho thế hệ cha mẹ. Thế hệ trẻ mới lập gia đình cho dù có

nhận được sự giúp đỡ của bố mẹ nhưng họ vẫn bộc lộ những bất đồng thế

hệ, xung quanh việc nuôi dạy con cái vì giới trẻ ngày nay trông cậy vào

tri thức khoa học và chuyên môn hơn là dựa vào sự hiểu biết của thế hệ

cha mẹ.

Thứ ba, về chức năng kinh tế của gia đình, có thể thấy rằng do quá

trình CNH mà gia đình và nơi làm việc bị tách rời nhau về mặt không

gian, theo đó chức năng sản xuất của gia đình cũng suy giảm hoặc mất đi

và chức năng tiêu dùng được tăng cường. Điều này có thể dẫn đến lối

sống của gia đình được quyết định tùy thuộc vào công việc hay mức thu

nhập của các thành viên trong gia đình và tiêu chuẩn tiêu dùng của gia

đình có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thỏa mãn sinh hoạt của gia đình.

Đối với trường hợp của các gia đình ở nông thôn thì chức năng sản xuất

và chức năng tiêu dùng của gia đình không bị phân chia rạch ròi nhưng

dưới cơ chế xã hội lấy việc sản xuất phục vụ cho sự trao đổi thì việc xản

xuất tự cung tự cấp của gia đình cũng bị suy giảm.

Như vậy, khi các hoạt động sản xuất kinh doanh do gia đình như

một đơn vị kinh tế thực hiện có xu hướng giảm thì các hoạt động kinh tế

do cá nhân thực hiện ngoài gia đình sẽ tăng lên, ví dụ như: làm công ăn

 

18

 

lương... Xu hướng cá nhân hóa các nguồn thu nhập của các thành viên

trong gia đình dẫn đến chỗ phạm vi hoạt động của gia đình như một đơn

vị kinh tế thu hẹp lại. Chức năng kinh tế của gia đình bộc lộ rõ hơn ở các

hoạt động tiêu dùng hơn là các hoạt động tạo thu nhập.

Thứ tư, về chức năng tâm lí - tình cảm, chức năng này dần dần

đang được xem trọng. Ở các gia đình phương Tây, khi tình yêu vợ chồng

đã nguội lạnh thì họ sẽ chia tay nhau do “không có lí do nào buộc họ phải

sống với nhau”. Gia đình ở Việt Nam thì không giống như vậy. Hầu hết

các gia đình ở Việt Nam vẫn còn tồn tại vững chắc đặc tính “gia đình chế

độ” - tức là, người vợ kì vọng vào vai trò trụ cột về kinh tế và vai trò làm

cha của người chồng hơn là kì vọng vào tình yêu và sinh hoạt tình dục

của vợ chồng. Còn người chồng thì ưu tiên kì vọng vào vai trò quản gia

tài giỏi, đảm đang và vai trò làm mẹ của người vợ. Tuy nhiên, cũng không

ít biểu hiện cho thấy rằng, ở thế hệ trẻ, số người cho rằng quan hệ vợ chồng

quan trọng hơn quan hệ giữa cha mẹ và con cái ngày càng tăng lên.

Trong đời sống tinh thần, tình cảm của gia đình thì việc con cái đã

tách hộ về thăm hỏi cha mẹ là tập quán phổ biến ở nước ta. Không phải

chỉ có con cháu là chỗ dựa của cha mẹ mà cha mẹ cũng là chỗ dựa cho

con cháu trong cuộc sống hàng ngày. Trên 90% người cao tuổi cho biết

họ hỗ trợ con cháu mình ít nhất một trong các hoạt động sau: về kinh tế -

góp phần tạo ra thu nhập và cấp vốn cho con cháu làm ăn, về kinh

nghiệm - quyết định các việc quan trọng của gia đình hay chia sẻ kinh

nghiệm làm ăn, ứng xử xã hội và dạy dỗ con cháu, về chăm sóc gia đình -

nội trợ và chăm sóc cháu nhỏ. Nhiều người cho rằng bây giờ con cháu lo

toan cho bố mẹ về vật chất nhiều hơn và đầy đủ hơn, còn việc trực tiếp

trò chuyện, hỏi han thì ít hơn trước. Có 37,5% người cao tuổi cho biết họ

thường trò chuyện, tâm sự chuyện vui buồn với vợ hoặc chồng của mình;

24,8% tâm sự, trò chuyện với con và 12,5% tâm sự với bạn bè, hàng xóm.

 

19

 

III. KẾT LUẬN

Gia đình là tế bào của xã hội, là đơn vị cơ bản cấu thành nên xã

hội. PGS.TS Hoàng Bà Thịnh đã từng khẳng định vai trò to lớn của giá

đình khi trả lời phỏng vấn tạp chí …“Gia đình là một bộ giảm xóc khổng

lồ để cứu mỗi cá nhân khỏi những mệt mỏi, căng thẳng khi đua tranh

ngoài xã hội, khiến mỗi cá nhân chùng xuống và tích luỹ năng lượng”.

Bấy nhiêu thôi đủ thấy gia đình có vai trò to lớn như thế nào đối với mỗi

cá nhân, và đối với toàn xã hội. Cơ thể xã hội chỉ có thể khoẻ mạnh khi

từng tế bào phát triển bình thường. Hiện nay nghiên cứu về gia đình là

một trong những yêu cầu cần thiết đáp ứng đòi hỏi của xã hội để hiểu rõ

hơn về những xu hướng biến đổi đang diễn ra trong lĩnh vực hôn nhân và

gia đình từ đó có thể hoạch định những chính sách nhằm giúp cho quan

hệ hôn nhân và gia đình phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội,

tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của xã hội.

Trong bối cảnh đổi mới, khi hệ thống giá trị xã hội và chuẩm mực

đang có nhiều thay đổi thì một loạt các giá trị, chuẩn mực trong gia đình

cũng biến đổi và dần định hình phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới. Tuy

nhiên, có thể thấy hôn nhân vẫn được coi như một giá trị, là tiền đề để

xây dựng gia đình. Hiện nay tuy đã xuất hiện một vài hình thức chung

sống không dựa trên tiền đề hôn nhân nhưng xu hướng được nhiều người

khẳng định vẫn là xây dựng gia đình, “trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng”

vẫn là quan niệm khá phổ biến. Sống độc thân vẫn chưa là xu hướng phổ

biến, rất ít người ủng hộ việc chung sống trước hôn nhân.

Đã có sự thay đổi trong quan niệm lựa chọn bạn đời, những tiêu chí

như lý lịch trong sạch, đồng hương… không còn được nhiều người chú ý.

Tiêu chí phù hợp trong thời đại hiện nay là lấy được người biết cách cư

xử, có đạo đức, có sức khoẻ, biết cách làm ăn… được nhiều người đặt

làm tiêu chí hàng đầu khi lựa chọn người bạn đời của mình.

 

20

 

Tuổi kết hôn là một chỉ báo quan trọng đánh dấu sự biến đổi mô

hình hôn nhân từ truyền thống sang hiện đại. Độ tuổi kết hôn đã dần tăng

lên đối với cả nam giới và nữ giới.

Quyền quyết định kết hôn có xu hướng thay đổi theo hướng tăng

dần vai trò của chủ thể hôn nhân, điều này thể hiện rõ nét trong nhóm kết

hôn gần đây, trong nhóm thanh niên đô thị.

Về phía gia đình có thể thấy quy mô gia đình có xu hướng hạt nhân

hoá và những chức năng cơ bản của gia đình cũng có những biến chuyển

phù hợp với sự phát triển của thời đại.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, Xã hội học, Nxb ĐH Quốc gia Hà

Nội, 2001.

2. Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu, Đỗ Thị Hồng, Số liệu điều tra cơ

bản về gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công

nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Khoa học xã hội, 2002.

3. Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ Đề tài KX-07-

09, Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,

1994.

4. Lê Ngọc Anh, Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình

truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí

Triết học.

5. Trịnh Hòa Bình, Về sự biến đổi của khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện

nay, Tạp chí hoạt động khoa học, 6/2006.

6. PGS.TS Đặng Cảnh Khanh, Về các chức năng của gia đình, Gia đình

và trẻ em, tạp chí nghiên cứu và lý luận của uỷ ban dân số, gia đình và trẻ

em kỳ I tháng 6/2006.

7. GS. TS. Nguyễn Ngọc Phú, Cha mẹ và vấn đề giáo dục con cái hiện

nay, Học viện chính trị quân sự.

 

21

 

8. Hoàng Bá Thịnh, Bạo lực gia đình đối với trẻ em và một số giải pháp

phòng ngừa, Tạp chí Tâm lý học số 06 ( 99 ), 2007.

9. Tạp chí, "Nghiên cứu gia đình và giới", số 1/2003

10. Tạp chí, "Nghiên cứu gia đình và giới", số 2/2003

11. Đặng Ánh Tuyết, Hoàng Kim Ngọc, Những thay đổi trong hôn nhân

tại Vĩnh Phúc hiện nay, Số 4, Tổng cục DS-KHHGĐ.

12. Lê Thi, Sự biến động của dân số và mối quan hệ với hôn nhân và gia

đình ở nước ta hiện nay, Số 9, Tổng cục DS-KHHGĐ.

13. Lâm Ngọc Như Trúc, Công nghiệp hoá và sự biến đổi của gia đình

Việt Nam, Đề tài VNH3.TB6.333.

NHÀ TÙ SƠN LA – TRƯỜNG HỌC CÁCH MẠNG LÝ TƯỞNG CHO NHỮNG CHIẾN SỸ KIÊN TRUNG

 

 

Th.s Đào Văn Trưởng – Trường Đại học Tây Bắc

Năm nay, đánh dấu tròn 110 năm nhà tù Sơn La - hay nhà ngục Sơn La

(Pénitencier de Sơn La) ra đời (1908 – 2018). Nhà tù Sơn La cùng với 2 nhà tù

khét tiếng khác của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam là Hỏa Lò và Côn Đảo từng

được biết đến là “địa ngục trần gian”, nỗi ám ảnh kinh hoàng của rất nhiều thế hệ

những người tù yêu nước. Nhưng cũng chính nơi đây đã trở thành trường học

chính trị, cách mạng lý tưởng - Nơi ươm mầm, đào tạo và tôi luyện cho cách

mạng, Tổ quốc, nhân dân và dân tộc Việt Nam anh hùng những chiến sỹ cách

mạng vô cùng quả cảm, anh dũng, kiên trung, tài năng và xuất chúng, góp phần

quan trọng vào thành công của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây

dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1. Vì sao thực dân Pháp xây dựng nhà tù tại Sơn La

Với chiêu bài “khai hóa văn minh” hết sức phản động của thực dân Pháp tại

các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam; chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường

học để đàn áp các cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta, chúng ru ngủ nhân

dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện; đau xót biết bao khi dưới chế độ thực dân,

toàn tỉnh Sơn La rộng lớn chỉ có duy nhất một trường tiểu học. Nhà tù Sơn La,

cùng với nhà tù Hỏa Lò, Côn Đảo - những địa ngục trần gian đã trở thành công cụ

hữu hiệu cho chế độ thực dân phản động đàn áp, khủng bố và tiêu diệt những

người Việt Nam yêu nước và những chiến sỹ cách mạng kiên cường.

Là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Việt Nam, Sơn La đất rộng người

thưa, là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau như Thái, Mường,

H Mông, Lào, Dao, La Ha, Xinh Mun, Khơ Mú, Kinh…Sơn La có vị trí địa chính trị

vô cùng quan trọng là phên dậu, cửa ngõ án ngữ vô cùng quan trọng ở phía Tây

của Tổ quốc khi có đường biên giới tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân

dân Lào. Dưới thời Pháp thuộc, Sơn La là nơi xa xôi, hiểm trở, nghèo nàn, lạc hậu,

chậm phát triển; được biết đến là nơi rừng thiêng, nước độc “Nước Sơn La, ma Tạ

Bú”, “Lam sơn chướng khí”, khí hậu khắc nghiệt; với câu ca quen thuộc “Ai lên Hát

Lót, Chiềng Lề, khi đi thì dễ, khi về thì không”. Dựa trên những tính toán về đặc

điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội như vậy mà thực dân

Pháp đã quyết định xây dựng nhà tù Sơn La vào năm 1908 làm nơi giam cầm, đầy

ải, tra tấn và thủ tiêu những người yêu nước và tù chính trị ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ

của Việt Nam.

 

Ảnh nhà tù Sơn La (năm 1932), nguồn Internet

 

Nằm trong hệ thống các nhà tù, nhà ngục, trại giam…nhà tù Sơn La được

thực dân Pháp xây dựng ở nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX. Ban đầu nó

chỉ là nhà tù hàng tỉnh mang tên “Prison de Van Bu” với chức năng giam giữ tù

thường phạm tại địa phương (Trước đây, Sơn La thuộc tỉnh Vạn Bú thành lập

năm 1895, tỉnh lỵ đặt tại Pá Giang bên bờ sông Đà. Đến năm 1904, thực dân Pháp

chuyển tỉnh lỵ về Sơn La và đổi tên gọi từ Vạn Bú thành Sơn La). Khi đó, nhà tù

Sơn La được đổi tên thành “Pénitencier de Sơn La” – tức Ngục Sơn La. Như vậy,

đối tượng giam giữ không chỉ là tù thường phạm (tức phạm nhân bị tội thông

thường) mà còn là tù chính trị (tức những phần từ nguy hiểm cho chế độ thuộc

địa theo nhận định của thực dân Pháp và chính quyền tay sai) thuộc nhiều đảng

phái chính trị khác nhau, trong đó có số lượng lớn đảng viên cộng sản. Đặc biệt là

từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách

mạng tại Việt Nam và Đông Dương; thực dân Pháp ra sức đàn áp, khủng bố phong

 

trào cách mạng, truy lùng, bắt bớ và kết án nhiều người là đảng viên Đảng Cộng

sản; sau đó đưa lên giam giữ tại nhà tù Sơn La. Nếu như năm 1930, nhà tù Sơn La

chỉ có 24 đảng viên cộng sản thì đến năm 1944 con số này đã là 1007 người.

Âm mưu thâm độc và thủ đoạn vô cùng tàn bạo, vô nhân đạo của thực dân

Pháp là biến nhà tù Sơn La thành địa ngục trần gian bằng cách lợi dụng điều kiện

thiên nhiên khắc nghiệt cùng với chế độ ăn uống kham khổ và lao động khổ sai,

cực nhọc cùng các loại dịch bệnh hiểm nghèo như: thương hàn, kiết lị, vàng da,

sốt rét…là những nỗi ám ảnh giết dần, giết mòn những người tù yêu nước kiên

trung của chúng ta “Với lối kiến trúc kiên cố: tường xây bằng đá hộc, mái lợp tôn

đã làm cho nhà ngục vào mùa hè nóng như thiêu như đốt, nhất là vào những kỳ

gió Lào, mùa đông thì lại lạnh thấu xương. Bục cho tù nhân nằm cũng được xây

bằng đá, mặt láng xi măng, mép ngoài gắn cùm theo chiều dài của bục. Phần cuối

cùng của khu nhà chéo góc là một gian xà lim tam giác có bục nằm cũng là hình

tam giác cân. Các buồng giam trong khu nhà chéo góc đều rất chật hẹp, ngoắt

ngoéo. Liền với phòng giam là buồng chứa xác tù nhân, giữa mỗi buồng giam,

chúng cho đặt những thùng xí nổi gây ô nhiễm ngột ngạt”[3, tr.8]. Trong báo cáo

của Công sứ Sơn La Xanh PuLốp gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ năm 1932 có đoạn viết

“... Xin ngài cứ tiếp tục gửi chính trị phạm lên Sơn La, bọn này nếu ở Hỏa Lò là

những hạng hung hăng khó trị, thì rồi đây lên tới Sơn La, chỉ trong vòng 6 tháng

thôi, vi trùng sốt rét sẽ làm cho chúng suy nhược và trở nên hiền hòa”.

Đặc biệt, thực dân Pháp triệt để thi hành chính sách “Dùng người Việt trị

người Việt; lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”; chúng ra sức lợi dụng vấn đề dân

tộc, ngôn ngữ, tôn giáo cùng sự thiếu hiểu biết, nhẹ dạ, cả tin, cùng với thiếu thốn

về vật chất của một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số, thực dân Pháp đã mua

chuộc, dụ dỗ, nói xấu, xuyên tạc, bôi nhọ uy tín và hạ thấp danh dự của những

người tù chính trị yêu nước nhằm chia rẽ, kích động gây mất đoàn kết dân tộc và

ngăn cản việc truyền bá tư tưởng yêu nước, cộng sản tới quần chúng nhân dân;

đồng thời thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người tù yêu nước “Đừng tìm cách

chạy trốn, thổ dân sẽ đem đầu các anh về đổi lấy muối” là lời dọa dẫm thường ngày

của Pulốp với tù chính trị tại nhà tù Sơn La. Đây là âm mưu, thủ đoạn giết người

hết sức hèn hạ, tàn bạo và phản động của chế độ thực dân, trái ngược hoàn toàn

với cái gọi là chế độ dân chủ tư sản, dân chủ tự do, văn minh đại Pháp…mà chúng

rêu rao trên báo chí trong và ngoài nước.

2. Biến nhà tù thành trường học cách mạng lý tưởng

Trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, khó khăn và khắc nghiệt như vậy,

nhưng những chiến sĩ cách mạng kiên trung đã vượt qua mọi âm mưu thâm độc

của kẻ thù, kiên định, giữ vững mục tiêu, lập trường, trung thành với lý tưởng của

Đảng; tích cực học tập, lao động, chiến đấu, biến nhà tù thành trường học chính

trị, cách mạng. Tháng 12 năm 1939, Chi bộ Cộng sản nhà Ngục Sơn La chính thức

được thành lập do đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Bí thư Chi bộ đầu tiên đã

lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng cho anh em tù chính trị và đồng bào

nhân dân các dân tộc Sơn La và khu vực Tây Bắc “Chi bộ nhà ngục Sơn La có hai

nhiệm vụ: tổ chức cho một số cán bộ vượt ngục bổ sung cán bộ cho phong trào. Thứ

 

hai là xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng Tây Bắc, phát triển du kích ở nhiều nơi” [4,

tr.66]. Chi bộ đã làm tốt công tác tác tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ lý tưởng

cách mạng, rèn luyện phương pháp đấu tranh cho đảng viên và quần chúng nhân

dân; xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng chính trị trong và ngoài nhà

tù. Trong đó, tiêu biểu là hai tổ chức thanh niên cứu quốc của đồng bào các dân

tộc Thái thuộc phường Chiềng Lề (Thành phố Sơn La) và châu Mường La mang

tên “Mú món chất mương” đã tham gia tích cực vào việc mở rộng và phát triển

phong trào cách mạng tại Sơn La.

Đồng thời, Chi bộ đã tổ chức thành công các cuộc vượt ngục cho nhiều

đồng chí đảng viên là cán bộ cao cấp của Đảng như Nguyễn Lương Bằng, Trần

Đăng Ninh, Lưu Đức Hiểu, Nguyễn Văn Trân…góp phần quan trọn vào thành công

của cuộc Cách mạng Tháng Tám mùa thu lịch sử (1945) cũng như sự nghiệp đấu

tranh giải phóng dân tộc tại Việt Nam. Đặc biệt, tại nơi được gọi là “địa ngục trần

gian” đã ra đời một tờ báo mang tên “Suối Reo” – cơ quan ngôn luận của Chi bộ

cộng sản nhà tù Sơn La do đồng chí Xuân Thủy trực tiếp phụ trách trở thành món

ăn tinh thần không thể thiếu và là vũ khí đấu tranh vô cùng sắc bén trên mặt trân

văn hóa, tư tưởng của những chiến sĩ cộng sản. Cảm hứng và tinh thần chủ đạo

của tờ “Suối Reo” được thể hiện sâu sắc trong 4 câu thơ đề dẫn thay cho lời tựa

của đồng chí Xuân Thủy như sau:

 

“Thu sang hoa cỏ già rồi

Suối reo lên để cho đời trẻ trung

Thu sang non nước lạnh lùng

Suối reo lên để cho lòng ta reo”

 

Nhà tù Sơn La đã trở thành vườn ươm - Nơi tuyên truyền, giác ngộ, đào tạo

và tôi luyện những hạt giống đỏ hết sức kiên cường và suất sắc cho cách mạng

như các đồng chí: Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng,

Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Tô Hiệu, Đặng

Việt Châu, Lê Văn Lương…Trong đó, nhiều người là con, em của quê hương Sơn

La anh hùng như: Lò Văn Giá, Cầm Văn Thinh, Chu Văn Thịnh, Bế Nhật Huấn, Bế

Văn Điềm, Lò Văn Mười...

Như vậy, 110 năm đã trôi qua (1908-2018), Nhà tù Sơn La - Chứng tích lịch

sử của dân tộc và thời đại đã trở thành một phần tuổi trẻ, thanh xuân, với rất

nhiều kỷ niệm, hoài bão, nhiệt huyết sục sôi, lý tưởng và tinh thần đấu tranh anh

dũng, sáng tạo của rất nhiều thế hệ các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Nó mãi là

biểu tượng cho sức sống, tinh thần, bản lĩnh và trí tuệ tuyệt vời của con người

Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù giành lại độc lập, tự do, thống

nhất và sự phát triển thịnh vượng. Với những giá trị và ý nghĩa lịch sử to lớn đó,

di tích lịch sử cách mạng Nhà tù Sơn La đã được Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ

nghĩa Việt Nam công nhận xếp hạng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt theo Quyết

định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Bảo tàng cách mạng Việt Nam – Bảo tàng Sơn La, Suối reo năm ấy, Nxb

Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1993.

 

[2] Lịch sử Đảng bộ Sơn La 1939-1954 (Tập 1), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, 2002.

[3] Nhà tù Sơn La (1908-1945). Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Sơn La xuất

bản năm 1980.

[4] Những bút tích của các chiến sỹ cộng sản nhà tù Sơn La. Tài liệu gốc lưu

tại Bảo tàng Sơn La.

MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ XÃ HỘI HỌC DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN

 

TS. Phạm Thu Hà

 

1. Thuyết Malthus:

Châu Âu cuối thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ

thuật, đời sống kinh tế - xã hội có những bước tiến mới. Cũng trong thời kỳ

này, nhiều nhà tư tưởng cho rằng, trong tương lai, xã hội loài người không

có vấn đề gì là không thể giải quyết được. Trong bối cảnh ấy, Thomas

Robert Malthus (1766-1834) là mục sư, nhà kinh tế học người Anh, người

cha đẻ của học thuyết mang tên mình. Ông đã công bố tác phẩm Về các

nguyên lý dân số và ảnh hưởng của nó đối với sự hoàn thiện xã hội trong

tương lai, trong đó, ông đã trình bày quan điểm thể hiện sự bi quan về viễn

cảnh của sự phát triển dân số. Học thuyết của Malthus dựa trên hai tiên đề:

lương thực là sự cần thiết cho sự tồn tại của con người và tình yêu nam – nữ

là mãi mãi cần thiết cho xã hội loài người.

Malthus có công đầu trong việc nêu lên và nghiên cứu vấn đề dân số,

đặc biệt lên tiếng báo động cho nhân loại về nguy cơ của sự tăng dân số.

Malthus khẳng định rằng sự gia tăng dân số luôn có xu hướng vượt

quá sự gia tăng về các phương tiện sinh tồn. Ông tin rằng một sự cân bằng

thích hợp giữa dân số và sinh tồn sẽ đạt được qua những tác động hủy diệt

của chiến tranh, nạn đói, và dịch bệnh, và những tác động gây suy kiệt của

sự bần cùng và tệ nạn trong các tầng lớp nghèo. Sau đó Malthus đã chỉnh

sửa bức tranh ảm đạm này để đề xuất rằng việc lập gia đình trễ cùng với việc

tiết dục chặt chẽ có thể kiểm soát việc gia tăng dân số, nhưng ông không hy

vọng lắm vào việc sẽ có nhiều người thực hiện việc tiết chế này.

 

2

Thuyết của Malthus thực chất dựa trên hai định đề: “Tôi nghĩ tôi có

thể đưa ra hai định đề một cách hợp lý. Thứ nhất, lương thực là sự cần thiết

cho sự tồn tại của con người. Thứ hai, niềm đam mê giữa nam và nữ là cần

thiết và sẽ tiếp tục duy trì như ở mức độ hiện tại… Giả định rằng các định đề

của tôi là đúng, tôi sẽ nói rằng dân số sẽ tăng nhanh hơn một cách vô hạn so

với khả năng mà quả đất có thể tạo ra lương thực cho con người. Khi không

được kiểm soát, dân số sẽ tăng theo cấp số nhân. Còn lương thực chỉ tăng

theo cấp số cộng. Theo quy luật của tự nhiên là lương thực là thiết yếu đối

vói cuộc sống của con người, thì tác động của hai khả năng không cân bằng

này cần phải được giữ ở mức cân bằng”.

Như vậy, quan điểm chính của Malthus khẳng định ở hai khái cạnh đó

là vấn đề lương thực và vấn đề sự đam mê giữa các phái tính, vấn đề duy trì

nòi giống. Để bảo vệ luận điểm của mình ông đã khẳng định như sau:

“Trong thế giới thú vật và thảo mộc, thiên nhiên đã rải rắc các hạt giống

của sự sống bằng bàn tay phong phú và tự do hơn. Nhưng thiên nhiên đã

giới hạn sự nuôi dưỡng cần thiết... Các giống thực vật và giống động vật thu

hẹp dần do định luật giới hạn và giống người, dù cho cố gắng nào, cũng

không thể thoát khỏi định luật giới hạn này. Đối với cây cỏ và thú vật, các

tác dụng là sự phí phạn hạt giống, sự đau bệnh và yểu vong. Đối với con

người, đó là sự nghèo khó (misery) và các tật xấu (vice)”.

Ông cho rằng sự gia tăng dân số có thể được giữ cân bằng với cung

cấp lương thực bằng cách mà ông gọi là “sự kiểm soát tích cực” dưới dạng

đạo đức hay vật lý có xu hướng làm yếu đi hay hủy diệt con người trước khi

họ có thể có cái thết tự nhiên.

Lý thuyết của T. Malthus cũng đã chỉ ra nguyên nhân của nghèo đói

bằng một tỷ lệ đơn giản giữa tốc độ tăng trưởng dân số với tốc độ tăng

trưởng của cải – tương ứng với mức sống tối thiểu. Nội dung chính được thể

 

3

hiện như sau: Trong điều kiện thuận lợi, dân số, nếu tăng theo cấp số nhân sẽ

đạt số lượng gấp đôi sau 20-25 năm, còn sản xuất thực phẩm và đồ tiêu dùng

cần thiết chỉ tăng theo cấp số cộng, thì (dân số) sẽ không thể tăng thêm với

tốc độ đó nữa. Khi đó, do bùng nổ dân số, nghèo đói sẽ đe dọa vận mệnh

toàn nhân loại.

Mặc dù quan điểm của Malthus còn có những hạn chế nhất định trong

cách nhìn nhận về tiềm năng của khoa học trong việc giải quyết mối quan hệ

giữa dân số và lương thực, thực phẩm. Thuyết Malthus đã dấy lên một làn

song phản đối mạnh mẽ ngay từ khi ông công bố công trình của mình.

Người ta phê phán ngay tính đúng đắn của hai định để mà ông đưa ra,

nhưng sự phê phán tập trung nhiều hơn vào luận điểm cho rằng không thể

giữ được mức cân bầng giữa cung cấp lương thực và mức tăng dân số nếu

không có “sự kiểm soát tích cực”, luận điểm cho rằng khi có kiềm chế về

mặt đạo đức là cứu cánh cho sự cân bằng, và rằng sự nghèo khổ là kết quả

tất yếu của quá trình tăng trưởng dân số.

Một điều quan trọng có thể khẳng định: Ngày nay trong các giáo trình

về dân số hay dân số và phát triển người ta đều nhắc đến thuyết Malthus như

là một cột mốc lịch sử trong tư duy lý luận về dân số. Malthus là người đầu

tiên đưa dân số trở thành vấn đề được quan tâm nghiên cứu với tính cách là

môn khoa học nghiêm túc và cảnh báo về sự gia tăng dân số quá nhanh sẽ

trở thành hiểm họa đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

2. Lý thuyết quá độ dân số

Lý thuyết quá độ dân số chia quá trình phát triển dân số làm ba thời

kỳ: thời kỳ trước quá độ, thời kỳ quá độ và thời kỳ sau quá độ. Nó được xây

dựng trên cơ sở tình hình thực tế của các nước Tây Âu – những nước đã

chuyển từ trạng thái dân số cổ điển sang trạng thái dân số hiện đại. Có thể kể

ra những tác giả như W.S Thompason, A.M.Carr-Saunders, song người trình

 

4

bày thuyết này có hệ thống nhất là Frank W. Notestein, ông trình bày thuyết

này đầu tiên vào năm 1944. Thuyết quá độ dân số lúc đầu mang nặng tính

chất mô tả xu hướng chung quan sát được ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo Notestein, quá đị dân số có tính phổ biến.

 

Thời kỳ trước quá độ: thích ứng với xã hội mà trong đó con người

sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, phương thức chủ yếu là du canh, du

cư, nông nghiệp lạc hậu…, mức sống thấp, dịch bệnh nhiều, tỷ lệ chết cao.

Để tồn tại và phát triển, con người phải sinh đẻ nhiều. Mức sinh cao, mức

chết cao dẫn đến sự gia tăng dân số diễn ra chậm chạp, thời kỳ này được coi

là thời kỳ “cân bằng dân số lãng phí”. Căn cứ vào sự những sự thay đổi,

thuyết quá độ dân số phân biệt 3 giai đoạn:

Giai đoạn trước quá độ dân số: thích ứng với xã hội nông nghiệp phát

triển, bắt đầu công nghiệp hóa, nhờ những thành tựu trong y học mà con

ngời có thể thanh toán những căn bệnh gây chết người hàng loạt như: tiêu

chảy, đậu mùa…làm mức chết giảm nhanh, trong khi đó mức sinh vẫn giữ

nguyên, thậm chí tăng chút ít (do đời sống sức khỏe sản phụ được cải thiện).

Trạng thái cân bằng truyền thống giữa mức sinh và mức chết cao bị phá vỡ

và bắt đầu xuất hiện sự bùng nổ dân số.

Giai đoạn quá độ dân số: thích ứng với quá trình công nghiệp hóa và

đô thị hóa ngày càng phát triển. Tỷ suất sinh (SBR) và tỷ suất chết (CDR)

tiếp tục giảm, nhưng CDR giảm nhanh hơn dẫn đến tỷ suất tăng tự nhiên có

xu hướng giảm, tuổi thọ con người tăng lên. Giai đoạn này do lực lượng sản

xuất phát triển, điều kiện sống của con người được cải thiện, các dịch vụ

chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên tỉ suất tử vong giảm mạnh. Sự chênh lệch

giữa mức sinh và mức tử rất lớn, dân số tăng nhanh, trong giai đoạn này đã

xảy ra hiện tượng bùng nổ dân số.

 

5

Giai đoạn sau quá độ dân số: do ở giai đoạn trước tuổi thọ của con

người được nâng lên dẫn đến dân số bị lão hóa trong giai đoạn này, tỷ suất

chết có xu hướng nâng cao một chút. Giai đoạn này CBR và CDR cân bằng

thấp (khoảng 10%) bảo đảm tái sản xuất dân số giản đơn. Thời kỳ này đặc

trưng của thời kỳ này là mức chết thấp tương đối ổn định và mức sinh thấp

với những biến động nhỏ (điều này tùy thuộc vào chính sách dân số của mỗi

chính phủ). Trạng thái cân bằng dân số tiết kiệm được xác lập (loài người

không phải sinh với mức sinh cao để đối phó với mức chết cao như trước

đây mà chỉ cần có mức sinh tương đối thấp cũng đủ để duy trì sự tồn tại loài

người. Thời kỳ này sự biến động về mức sinh là yếu tố cơ bản quyết định sự

phát triển của dân số), thích ứng với xã hội công nghiệp hiện đại.

Khi nghiên cứu về lịch sử quá độ dân số của các nước châu Âu, người

ta đã chỉ ra một số điểm không đúng của thuyết này:

- Thứ nhất: Mức sinh trước thời kỳ quá độ không cao như Notestein

mô tả và cũng rất khác nhau ở các nước khác nhau ở châu Âu

- Thứ hai: Điểm quan trọng của thuyết quá độ dân số là có sự chậm

trễ giữa việc giảm mức tử vong và mức sinh, song bừng chứng ở châu Âu

cho thấy không có mối liên hệ nhất quán nào giữa việc giảm mức tử vong và

giảm mức sinh.

- Thứ ba: Khi đề cao tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa.

Thuyết quá độ dân số cho rẳng mức sinh sẽ giảm trước ở đô thị rồi mới giảm

ở nông thôn, nhưng những bằng chứng ở châu Âu cho thấy thực tế không

phải như vậy, nhiều nơi mức sinh giảm ở nông thôn trước hoặc cùng lúc với

đô thị.

Lý thuyết quá độ dân số phản ánh qua quá trình biến đổi dân số từ

trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác hợp lý hơn, trên cơ sở

sự biến đổi về kinh tế, xã hội từ nông nghiệp truyền thống sang xã hội công

 

6

nghiệp hiện đại. Tuy lý thuyết quá độ dân số không giải thích cụ thể nguyên

nhân biến dổi dân số từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng

khác, song nó mang lại cách nhìn nhận tổng quát, rất cần thiết cho việc hiểu

biết và nghiên cứu dân số học.

 

3. Học thuyết Mác – Lênin với vấn đề dân số:

Mác, Ăngghen, Lênin đã đề cập nhiều tới vấn đề dân số trong các tác

phẩm kinh điểm về duy vật lịch sử. Nội dung của học thuyết này như sau:

- Mỗi hình thức kinh tế – xã hội có quy luật dân số tương ứng với nó.

Phương thức sản xuất như thế nào thì sẽ có quy luật phát triển dân số như

thế ấy. Đây là một trong những luận điểm hàng quan trọng hàng đầu của học

thuyết Mác-Lênin.

- Sản xuất vật chất và tái sản xuất dân cư, suy cho cùng, là nhân tố

quyết định sự phát triển của xã hội loài người.

- Căn cứ vào những điều kiện cụ thể về tự nhiên, kinh tế, xã hội, mỗi

quốc gia phải có trách nhiệm xác định số dân tối ưu để một mặt, có thể đảm

bảo sự hưng thịnh của đất nước và mặt khác, nâng cao chất lượng cuộc sống

của mỗi người dân.

- Con người có đủ khả năng để điều khiển các quá trình dân số theo

mong muốn của mình nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội, cải thiện

đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đúng như F.Ăngghen nhận xét,

đến một lúc nào đó xã hội phải điều chỉnh mức sinh của con người.

4. Các lý thuyết kinh tế:

Các lý thuyết tiếp cận từ góc độ kinh tế đã áp dụng ý tưởng về quan

hệ cung - cầu vào việc giải thích quá trình giảm mức sinh. Vấn đề sinh đẻ

được coi như là sự lựa chọn của cá nhân, của mỗi cặp vợ chồng trong hoàn

cảnh nhất định dựa trên những tính toán thiệt hại về vấn đề cung cầu đối với

 

7

con cái hay chi phí lợi ích gắn với mỗi sự lựa chọn khác nhau. Về thực chất

cách tiếp cận này có xu hướng đánh giá thấp các tác động của yếu tố văn

hóa.

Lý thuyết về sợ biến đổi và phản ứng trong lịch sử dân số học hiện đại

của Kingsley David cho rằng sức ép về kinh tế của hộ gia đình phụ thuộc

vào quy mô hộ gia đình (số con) và các nguồn lực kinh tế. Khi sức ép lớn,

người ta sẽ phản ứng bằng cách trì hoãn hôn nhân, không kết hôn, di dân,

hoặc hạn chế sinh đẻ, nhằm duy trì mức sống mong muốn của gia đình.

Kingsley David cho rằng khát vọng sống tốt hơn trong quá trình hiện đại hóa

mới chính là động cơ thôi thúc các cặp vợ chồng có ít con hơn chứ không

phải mong muốn thoát khỏi đói nghèo.

5. Thuyết về luồng của cải giữa các thế hệ của Caldwell

Theo Caldwell thì chỉ có hai chế độ sinh đẻ:

- Chế độ sinh con nhiều khi dòng của cải chạy từ con sang cha mẹ

- Chế độ ít con khi dòng của cải chạy từ bố mẹ sang con cái.

Quan điểm của ông cho rằng khi con cái đóng góp cho bố mẹ cả về của cải,

sức lao động, tình cảm.. nhiều hơn thì người ta thường sinh đẻ nhiều con.

Nhưng khi dòng của cải này chảy từ cha mẹ xuống con cái thì người ta lại có

xu hướng là sinh ít con hơn. Bởi vì chi phí họ bỏ ra để nuôi dậy con cái là

quá tốn kém và lợi ích do có nhiều con đem lại thì không nhiều.

Sự so sánh giữa hai xã hội nông nghiệp truyền thống và hiện đại cho

thấy: đối với xã hội nông nghiệp truyền thống hiện đại thì người ta thường

đẻ nhiều hơn. Vì con cái là tài sản của gia đình, là lực lượng lao động cần

thiết cho sản xuất của cải và là chỗ dựa tinh thần cho cha mẹ khi về già….

Nhưng khi điều kiện kinh tế, đời sống có sự thay đổi, thì người ta thấy rằng

việc có nhiều con cái không tốt cho chính bản thân họ và cho con cái họ, nên

họ muốn sinh ít con.

 

8

Như vậy theo Caldwell chỉ có hai chế độ sinh đẻ: chế độ sinh nhiều

con khi dòng của cải chạy từ con sang cha mẹ. Thứ hai là chế độ sinh ít con

khi dòng của cải chạy từ cha mẹ sang con cái nhiều. Khi dòng của cải đổi

chiều thì ta sẽ quan sát được quá trình quá độ sinh đẻ.

6. Thuyết về ý tưởng (văn hóa)

Xuất phát điểm của Thuyết về ý tưởng văn hóa là việc cho rẳng người

ta có mức sinh khác nhau vì các giá trị văn hóa đối với việc sinh đẻ khác

nhau. Những giá trị văn hóa đã được đề cao và đã được tuân thủ thì rất khó

thay đổi, kể cả khi có sự thay đổi về cấu trúc. Với những xã hội mà có nền

văn hóa đề cao giá trị của con cái thì sẽ có mức sinh cao. Đây cũng chính là

điểm hạn chế của thuyết này, khi giải thích rằng người ta đẻ nhiều vì người

ta có sở thích văn hóa đẻ nhiều, và ngược lại. Để có thể tránh cái vòng giải

thích luẩn quẩn này thì người ta cần giải thích các yếu tố văn hóa dưới dạng

các yếu tố về cấu trúc hay các điều kiện lịch sử khác.

7. Lý thuyết về sự biến đổi dân số và công nghệ của Ester Boserup

Ester Boserup trình bày vấn đề dân số của mình là “ biến đổi dân số

là một trong những yếu tố quyết định biến đổi dân số”. Đây là luận điểm

trung tâm mà bà đưa ra trong cuốn tiểu luận có nhan đề “Biến đổi dân số và

công nghệ” (1981). Bà quan tâm và nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa dân số

và sự phát triển về công nghệ. Đây là một mối quan hệ phức tạp và Ester

Boserup đã đưa và phân tích nhiều phát kiến về công nghệ dẫn đến những

ảnh hưởng to lớn đối với vấn đề quy mô và sự phân bố dân số trên thế giới

trong lịch sử. Bà cũng đặc biệt chú ý đến vấn đề mối quan hệ ngược lại của

dân số đối với sự phát triển của công nghệ. Trong những phát kiến về công

nghệ thì phải kể đến những phát kiến về sản xuất lương thực, xây dựng và

giao thông, và công nghệ trong y tế. Khía cạnh quan trọng trong mối quan

hệ này là quá trình chuyển giao công nghệ từ vùng này sang vùng khác. Quá

 

9

trình này, theo bà nó phụ thuộc vào những khía cạnh kỹ thuật của truyền

thông và giao thông vận tải mà nó cũng phụ thuộc vào điều kiện nhân khẩu

học nhất định, vào bản chất của công nghệ đang xét, dù việc áp dụng công

nghệ đòi hỏi nhiều người hay ít người, hoặc có thể áp dụng vào một vùng cụ

thể nào đó không.

Theo bà “ nhiều phát minh ngày nay cũng như trong quá khứ đã nảy

sinh nhờ nhu cầu con người và câu hỏi cần đặt ra là sự thôi thúc do nhu cầu

đó đến lượt mình đã bị tác động đến mức nào bởi những biến động về dân

số. Quy mô dân số được xem như là điều kiện cần thiết cho việc áp dụng

một dạng phát sinh về công nghệ nhất định. Quy mô dân số lớn có thể là

một lợi thế vì sẽ có nhiều người chia sẻ gánh nặng của việc đầu tư tập thể.

Đồng thời, quy mô dân số lớn cũng có thể là trở ngại vì tỷ lệ dân số - nguồn

lực có thể giảm. Tại một thời điểm và thời gian cụ thể, xu hướng này hay

khác có thể là xu hướng chính.

Từ những quan điểm trên Boserup cho rằng có ba điều kiện quan

trọng quyết định sự thành công của phát triển kinh tế xã hội:

- Thứ nhất là: Mật độ dân số

- Thứ hai: Hệ thống truyền thông và giao thông

- Thứ ba: Vai trò của chính sách của chính phủ điều mà bà gọi là

“công nghệ quản lý”. Đây là yếu tố mà bà cho là quan trọng nhất.

Với lý thuyết của mình Ester Boserup đã có những đóng góp to lớn

cho sự phân tích về dân số, những vấn đề khía cạnh về sự phát triển khoa

học công nghệ và mối quan hệ giữa chúng.

Chuyên mục phụ

  • Thông báo
  • Tin tức - Sự kiện

    Dolor pretium adipiscing Nam Curabitur nulla Duis id tellus at et. Dui orci Sed dolor Aenean tincidunt vitae vitae sed mattis sed. Purus Vivamus dapibus lorem Vestibulum dis pellentesque tristique dui Morbi hendrerit. Eu eu eros interdum tempus facilisi orci mollis netus semper massa. Consequat sed pellentesque cursus et vel nunc lacinia quis semper senectus. Felis Donec libero nibh Sed velit a Nulla elit dui porttitor.