Tin tức - Sự kiện

NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI, VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI

TS: Lê Thị Hương

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả phân tích các yếu tố cơ bản có ảnh hưởng mạnh

mẽ đền sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người. Cụ

thế, tác giả phân tích các yếu tố: Thực tiễn lịch sử Việt Nam, tư tưởng của dân tộc Việt

Nam, tư tưởng của Nho giáo và Phật giáo, tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn Phương

Tây, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh.

Từ khóa: Hồ Chí Minh, Con người, tư tưởng, nguồn gốc

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bất kỳ một học thuyết, tư tưởng, quan điểm nào trong lịch sử nhân loại ra đời cũng đều trên cơ

sở những điều kiện nhất định. Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành và phát triển ở thế kỷ XX không

nằm ngoài quy luật chung ấy. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến những yếu tố có sự

ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người.

NỘI DUNG

Thực tiễn lịch sử Việt Nam

Qúa trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, xây dựng

con người là quá trình đi từ thực tiễn đến lý luận, từ lý luận đến thực tiễn. Nó đòi hỏi phải

nắm chắc lý luận, tiếp thu những giá trị, yếu tố hợp lý trong tất cả các học thuyết, lý thuyết

về con người; đồng thời phải hiểu rõ những thực tiễn, những yêu cầu, xu hướng vận động

của thực tiễn.

Về mặt thực tiễn, ngoài việc chứng kiến những thành tựu của cuộc Cách mạng

Tháng Mười Nga 1917, khảo sát thực tiễn đời sống và thực tiễn đấu tranh chống đế quốc,

thực dân của nhân dân các nước trên thế giới mà Hồ Chí Minh đã đi qua thì thực tiễn lịch

sử Việt Nam là một trong những yếu tố cơ bản hình thành nên tư tưởng của Người về

con người, xây dựng con người.

Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để xâm lược Việt Nam. Sau

khi đánh chiếm nước ta, thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy thống trị thực dân. Về kinh

tế, chúng thi hành chính sách bóc lột, khai thác thuộc địa dã man. Chúng ra sức khai

thác tài nguyên, vơ vét của cải của nhân dân ta mang về chính quốc. Chúng bóc lột

nhân dân ta đến tận xương tủy. Về chính trị, chúng thi hành chính sách chuyên chế với

bộ máy đàn áp nặng nề. Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị

 

2

 

người Pháp. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc

đấu tranh của nhân dân ta trong biển máu. Chúng thi hành chính sách chia để trị rất

thâm độc. Chúng chia nước ta thành ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng. Chúng

gây chia rẽ hận thù giữa các vùng, miền, dân tộc, dòng họ và giữa Việt Nam với các

nước trên thế giới, đặc biệt giữa Việt Nam với Lào và Campuchia. Về văn hóa, chúng thi

hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các

hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục. Chúng tìm mọi cách để bưng bít và ngăn

chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam. Chúng thi hành

chính sách ngu dân để dễ bề thống trị.

Sự xâm lược, cai trị của thực dân Pháp, sự thối nát, bạc nhược của triều đình

phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào cảnh một cổ hai tròng.

Sống trong nỗi thống khổ một cổ hai tròng, các tầng lớp nhân dân ta đã có những

cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột, bất công nhằm giành lại độc lập, tự do và

hạnh phúc. Đó là các phong trào: Phong trào Cần vương (1885 - 1896), một phong trào

đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động đã mở cuộc tấn công trại

lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế. Cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng

(1885 - 1895). Cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Phong

trào Đông du của Phan Bội Châu. Phong trào Duy tân của Phan Châu Trinh. Phong trào

yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới diễn ra vào năm

1925 – 1926. Phong trào cách mạng quốc gia tư sản (1927 - 1930) gắn liền với tên tuổi

của Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính… Các cuộc

khởi nghĩa, phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi đã thể hiện tinh thần yêu nước của

người dân Việt Nam. Nhưng cuối cùng tất cả các cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước

đều bị đàn áp, bị dìm trong biển máu.

Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân bị nô lệ cùng với việc chứng kiến

nỗi khổ của nhân dân lao động trên thế giới bị áp bức, bóc lột, Hồ Chí Minh đã nhận

thức rằng, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, độc ác, bất công,

người lao động ở đâu cũng bị áp bức, bóc lột, đày đọa; rằng, “…dù màu da có khác

nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột.

Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [2, tr226]. Nhận

thức đó đã tạo nên sự thống nhất giữa tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh về con

người. Đó là hoài bão, lý tưởng yêu nước, thương dân, xúc động trước mọi nỗi đau của

đồng bào, nhân loại bị áp bức, bóc lột. Yêu thương con người gắn liền với ý chí đấu

tranh giải phóng con người trở thành động cơ, mục đích, khát vọng mãnh liệt suốt cả cuộc

đời của Hồ Chí Minh. Có thể nói rằng, thực tiễn lịch sử Việt Nam đã góp phần làm sâu

đậm thêm lòng nhân ái của Người.

 

3

Tư tưởng của dân tộc Việt Nam

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, có thể nói, từ rất sớm, ông cha ta đã có sự quan

tâm đến vấn đề con người, xây dựng con người. Khi tiếp cận lịch sử dân tộc, với tư chất

thông minh, Hồ Chí Minh đã có những hiểu biết sâu sắc lịch sử tư tưởng dân tộc nói

chung cũng như tư tưởng về con người, xây dựng con người nói riêng. Người đã tiếp

thu, kế thừa và phát huy những giá trị tích cực trong tư tưởng về con người xây dựng con

người trong lịch sử dân tộc. Nhìn một cách tổng quát, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa

những giá trị tư tưởng đó ở một số điểm sau:

Một là, kế thừa triết lý về đạo làm người. Đạo làm người là một trong những vấn đề

được bàn đến nhiều trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Nội dung của nó là yêu nước, yêu độc

lập tự do, có ý thức về dân tộc, về cộng đồng dân tộc, ý chí tự lực tự cường, có lòng nhân

ái, bao dung, độ lượng, hiếu thảo, coi trọng tình nghĩa, kính trên nhường dưới, trung thực,

giản dị, kiên cường, bất khuất…

Là người được giáo dục kỹ lưỡng về đạo làm người, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc

những giá trị ấy trong lịch sử tư tưởng về con người, xây dựng con người của ông cha

ta. Phát triển triết lý về đạo làm người của dân tộc, trong điều kiện xã hội mới, Người cho

rằng, đạo lý sống của người cách mạng là yêu nước, thương dân, thương nhân loại bị

áp bức, bóc lột, là đấu tranh nhằm làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành,

đem trí dân, sức dân làm lợi cho dân, sống với nhau có tình, có nghĩa. Trong suốt cuộc

đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc bồi dưỡng đạo lý làm người

cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Điều này không chỉ cho chúng ta thấy sự hiểu biết

sâu sắc quá trình phát triển nhân cách con người của Hồ Chí Minh, mà còn phản ánh

đậm nét việc Người kế thừa và nâng cao những giá trị nhân văn trong truyền thống văn

hóa của dân tộc.

Hai là, kế thừa và phát triển tư tưởng đề cao vai trò của quần chúng nhân dân

trong lịch sử dân tộc. Trong lịch sử dân tộc, vị trí, vai trò của con người luôn được đề

cao. Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, Hồ Chí Minh coi quần chúng nhân dân là người

sáng tạo ra lịch sử, là chủ thế sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, là lực

lượng đông đảo của cuộc cách mạng, là mục tiêu và động lực của cuộc cách mạng.

Không chỉ có vậy, Hồ Chí Minh còn luôn tin vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng

thương yêu nhân dân. Sự tin tưởng ấy, tình thương ấy của Người không bao giờ dừng

lại ở ý thức, tư tưởng mà trở thành ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu

tranh giải phóng con người, giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con

người.

Ba là, kế thừa và phát triển tư tưởng giáo dục trong điều kiện mới. Hồ Chí Minh

 

4

 

cho rằng giáo dục con người phải đủ đức, đủ tài, phải vừa hồng vừa chuyên, sống phải

có lý tưởng, phải có ý chí vươn lên để tự hoàn thiện mình ở mọi mặt, đem tài chí của

mình để xây dựng đất nước. Vì thế, khi đi thăm các nơi đào tạo cán bộ cao cấp của

Đảng và Nhà nước hay trong các bức thư gửi học sinh, các thầy cô giáo, cán bộ quản lý

ngành giáo dục, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải chú ý giáo dục ý thức đạo đức, ý thức

trách nhiệm công dân, đạo lý làm người, coi đó là những phẩm chất quan trọng của con

người trong xã hội mới.

Tư tưởng của Nho giáo và Phật giáo

Tư tưởng của Nho giáo

Nho giáo là một trường phái triết học của Trung Hoa cổ đại do Khổng Tử sáng lập

ra. Nổi bật nhất trong quan điểm con người là phạm trù Nhân của Khổng Tử. Cùng với

đó, Nho giáo cũng rất coi trọng vấn đề xây dựng con người thông qua vai trò của giáo

dục. Với một học vấn uyên thâm về Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá được những mặt

tích cực và hạn chế trong quan niệm của Nho giáo về con người và xây dựng con người;

đã khai thác và phát huy những yếu tố tích cực phù hợp với con người Việt Nam.

Một là, Hồ Chí Minh trân trọng mặt tích cực, tiến bộ trong quan điểm của Nho giáo

về con người. Đó là quan niệm cho rằng con người sống có lý tưởng, kiên cường, bất

khuất, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.

Hai là, Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng của Nho giáo về xây dựng con người. Trong

xây dựng con người, Hồ Chí Minh hết sức coi trọng đạo đức, coi đó là gốc của người

cách mạng. Người nói: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo

đức cách mạng. Đó là cái gốc rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có

tài cũng vô dụng” [6, tr. 329], Người nhấn mạnh rằng, chính tâm, tu thân là con đường

cơ bản để hoàn thiện nhân cách. Chính tâm, tu thân để trị quốc, bình thiên hạ.

Ba là, đề cao hiếu học và trọng học. Tiếp thu tư tưởng đó của Nho giáo, ngay sau

ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ chống giặc dốt ngang

hàng với chống giặc đói, giặc ngoại xâm trong bối cảnh giặc đói vừa giết hại hơn hai

triệu đồng bào và giặc ngoại xâm đang đặt dân ta trước họa sống còn của Tổ quốc.

Bốn là, Hồ Chí Minh cũng phê phán những mặt tiêu cực trong tư tưởng của Nho

giáo về con người và xây dựng con người. Chẳng hạn, con người trong quan niệm của Nho

giáo là con người nghĩa vụ, không hề bộc lộ cá tính, không có sự phát triển toàn diện, dễ

bằng lòng với thực tại, sống theo tôn ti trật tự, đẳng cấp.

Tư tưởng của Phật giáo

Phật giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên ở Ấn Độ trên vùng đất Nepan

ngày nay, do Phật Thích ca sáng lập. Nổi bật trong tư tưởng của Phật giáo là vấn đề đạo

đức trong triết lý nhân sinh. Quan niệm về đạo đức của Phật giáo là hướng con người

 

5

 

đến giá trị nhân bản, góp phần tích cực vào việc hoàn thiện đạo đức cá nhân.

Khi tiếp cận tư tưởng Phật giáo, Hồ Chí Minh đã khai thác những mặt tích cực,

phê phán những tiêu cực trong quan niệm về con người. Chẳng hạn, mặt tích cực của Phật giáo

là khuyên con người sống có đạo đức, từ bi, hỷ xả, sống giản dị, hướng tới cái thiện.

Nhân ngày Phật đản, Hồ Chí Minh viết: “Đời sống của nhân dân ta ngày càng được cải

thiện, cũng giống như tôn chỉ, mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần

mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui, ấm no”[5, tr. 290]. Trong thư gửi Hội nghị đại biểu Phật

giáo, năm 1964, Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam đều

cố gắng thực hiện lời Phật dạy là: đem lại lợi ích vui sướng cho mọi người, quên mình vì

người khác” [6, tr. 315]. Trong cuộc sống hàng ngày, Hồ Chí Minh không chỉ khuyên con

người sống hướng tới cái thiện mà còn có những việc làm cụ thể thể hiện tính thiện của

Phật giáo. Chẳng hạn, Người quan tâm tới bữa ăn của giáo ngũ, quan tâm từ trẻ thơ đến

người già trong quần chúng nhân dân.

Phát triển tư tưởng nhập thế của Phật giáo trong lịch sử chống giặc ngoại xâm

của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc đạo như việc đời, hướng vào cuộc đấu

tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Người từng nói: Làm phật pháp không

xa rời thế gian, kêu gọi mọi người hãy tham gia cứu đói, diệt dốt. Hồ Chí Minh khẳng

định chủ nghĩa nhân bản cao đẹp của Phật giáo hướng vào nhân tố con người trong mọi

cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Phản đối chế độ bất công, chế độ đẳng cấp, đòi tự do, bình đẳng, dân chủ cho

mọi người, Hồ Chí Minh từng viết: “Đức Phật đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu

chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma” [4, tr. 197].

 

(CÒN NỮA)

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. C.Mác – Ph.Ăngghen, (1994), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

2. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

3. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

4. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

5. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

6. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

NHÂN LOẠI NỢ VIỆT NAM MỘT LỜI CẢM ƠN - THẾ GIỚI NỢ VIỆT NAM MỘT LỜI XIN LỖI

Sưu tầm - ThS: Nguyễn Hải Minh

Nhân loại NỢ Việt Nam MỘT LỜI CẢM ƠN – thế giới NỢ Việt Nam MỘT LỜI XIN LỖI

Tháng bảy, tháng tri ân, đa số các bạn trẻ khi được tôi hỏi đều ngơ ngác và không hiểu tại sao lại là tháng tri ân.

Tôi không trách các bạn vì các bạn còn trẻ, khá trẻ, các bạn sinh ra khi mảnh đất này không còn tiếng súng, không còn tiếng gầm rú của máy bay, không thấy được cái sống và cái chết chỉ cách nhau một lằn ranh mảnh mai hơn cả sợi tóc vì bom rơi súng nổ nên chưa thể nào hiểu được để có một đất nước hòa bình, thống nhất và ấm no như hiện nay đã có biết bao xương máu của các thế hệ cha anh đi trước ngã xuống.

Tôi chỉ thấy khá bất bình đối với một số người tuy khá lớn tuổi, có sự hiểu biết nhất định về lịch sử nhưng lại cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận sự hi sinh to lớn của dân tộc này.

Mấy hôm nay tôi thường trao đổi với một số bạn trên mạng, các bạn ví nước Mỹ như là “Cảnh sát của thế giới”, các bạn hay hỏi “Việt Nam đã làm gì cho thế giới hay chưa”,…. Ở phạm vi bài viết này tôi không phân tích các cuộc chiến tranh vệ quốc trước năm 1975 mà sẽ nói nhiều về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam giai đoạn 1978 – 1989 để các bạn thấy Việt Nam đã làm được gì cho thế giới.

Như chúng ta đã biết, chế độ diệt chủng của Khrme đỏ từ điều tra của Liên Hiệp Quốc báo cáo đã gây ra cái chết cho khoảng 2–3 triệu người, tổ chức UNICEF ước tính khoảng 3 triệu người, với khoảng một nửa chết vì bị hành quyết và số còn lại vì đói khát và bệnh tật cho chính nhân dân Campuchia. Ngoài ra chúng còn giết hàng ngàn người dân Việt Nam khi đưa quân sang xâm lấn biên giới (bạn nào có về An Giang nên đến thăm chùa Ba Chúc sẽ hiểu như thế nào là diệt chủng).

Ngày 13/12/1978, Khmer Đỏ đã huy động 10 sư đoàn (khoảng 50.000 đến 60.000 quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, thực hiện sách lược diệt chủng đối với người Việt, như đã làm với chính người dân Campuchia. Ngày 23/12/1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân, bộ đội Việt Nam đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi quân Khmer Đỏ ra khỏi các vị trí dọc biên giới. Và chỉ sau 2 tuần, với những chiến dịch thần tốc, sức mạnh như vũ bão của đoàn quân Việt Nam bách chiến bách thắng, ngày 07/1/1979, Campuchia được hoàn toàn giải phóng.

Từ tháng 12/1977 đến 14/6/1978, Việt Nam thương vong 30.642 bộ đội, trong đó hy sinh 6.902 người. Hơn 30 vạn dân phải tản cư về phía sau, bỏ hoang 6 vạn ha đất bởi bàn tay Khmer Đỏ. Theo đó hiệp ước được ký bởi chính phủ mới của Campuchia với Việt Nam, quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục ở lại giúp nước bạn, máu chiến sỹ ta vẫn nhuộm đỏ mảnh đất này cho đến năm 1989 mới rút quân về nước. Trong chiến dịch phản công tự vệ và giúp bạn giải phóng đất nước, hơn 8.000 cán bộ chiến sỹ Quân tình nguyện Việt Nam đã ngã xuống. Trong 10 năm sau đó hàng vạn người con ưu tú của nước Việt tiếp tục đổ máu xương vì cuộc sống bình yên cho nhân dân nước bạn.

Lúc lính PônPốt thảm sát nhân dân VN ở các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Đồng Tháp, Long An… vô cùng man rợ, thậm chí đối với nhân dân Campuchia chúng còn không tha, chúng cai quản đất nước bằng máu và nước mắt thì Liên Hiệp Quốc ở đâu? Khi đó có ai sang Campuchia mới biết, có những cánh đồng lấy xác người làm phân bón, có những giếng nước bên dưới chỉ toàn xương người. Tại sao chế độ diệt chủng như thế mà Liên Hiệp Quốc, “cảnh sát của thế giới” ở đâu, các nước suốt ngày ra rả về nhân quyền ở đâu nhỉ? Tại sao thời điểm đó Việt Nam với muôn vàn khó khăn nhưng vẫn giúp Campuchia còn các nước khác lại không?

Để trả lời các câu hỏi trên chúng ta nghiên cứu một số dữ kiện như sau:

– Sau khi quân đội Việt Nam đánh bại Khmer Đỏ vào tháng 01/1979, Cộng hòa Nhân dân Campuchia (PRK) ra đời, cho mở lại các thành phố và trường học, nhưng vấp phải lệnh cấm vận từ Mỹ và Trung Quốc. Một cán bộ của Liên Hiệp Quốc kể lại rằng ông đến một trường học bị vây quanh bởi mìn và nghĩa địa. Có lớp học 50 học sinh nhưng chỉ có 8 cái bút. Có lớp học tổ chức dưới bóng cây, và tới mùa mưa phải dừng lại. Học sinh có em tới lớp trong tình cảnh “trần như nhộng”.

– Trong thời kỳ nạn diệt chủng xảy ra ở Campuchia, vì những lý do địa chính trị, cả Washington, Bắc Kinh, và Bangkok đều đồng thuận ủng hộ tiếp tục duy trì sự tồn tại của thể chế Khmer Đỏ. Khi Tổng thống Mỹ Gerald Ford tới thăm Indonesia ngày 06/12/1975, tài liệu ghi lại ông này đã trao đổi với Tổng thống Suharto như sau: “Chúng tôi sẵn lòng từng bước tạo dựng quan hệ với Campuchia với hi vọng có thể giúp làm giảm ảnh hưởng từ Bắc Việt Nam, dù chúng tôi biết rằng chính phủ Campuchia rất khó chơi”. Kissinger thì đánh giá rằng Bắc Kinh cũng đang thực thi chiến lược tương tự: “Người Trung Quốc muốn dùng Campuchia để cân bằng thế lực trước Việt Nam… Chúng ta đều không ưa Campuchia, chính phủ của họ thật tồi tệ, nhưng chúng ta muốn họ duy trì được độc lập. Vì vậy chúng ta không ngăn cản Thái Lan hoặc Trung Quốc tìm cách xích lại gần hơn với Campuchia”.

– Kể cả sau khi đã bị thất thế, chính quyền Khmer Đỏ vẫn nhận được sự hậu thuẫn gián tiếp âm thầm từ chính phủ Mỹ qua các đời Tổng thống, từ J.Carter, Ronal Reagan, tới Goerge H.Bush. Năm 1979, Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia của J.Carter, từng khẳng định quan điểm tương tự như chính sách của Kissinger trước đây: “Tôi khuyến khích Trung Quốc hậu thuẫn Pôn Pốt. Tuy thể chế Pôn Pốt là đáng ghê tởm, chúng ta không bao giờ ủng hộ thể chế này, nhưng gián tiếp thông qua Trung Quốc thì có thể được”.

– Năm 1982, Mỹ và Trung Quốc khuyến khích Sihanouk gia nhập liên minh lưu vong với DK (Đảng Dân chủ Kampuchea – tức Khmer Đỏ). Ngoại trưởng Mỹ George Schultz từng từ chối ủng hộ đề xuất về một tòa án quốc tế xét xử tội phạm diệt chủng. Tới năm 1989, người kế nhiệm ông ta là James A. Baker thậm chí còn đề nghị cho Khmer Đỏ tham gia vào chính phủ Campuchia.

– Đồng hành với những chính sách và thái độ hậu thuẫn Khmer Đỏ từ các cường quốc là sự im lặng kéo dài 20 năm của Liên Hiệp Quốc đối với nạn diệt chủng xảy ra ở Campuchia. Năm 1988, các nước Đông Nam Á đã họp và thống nhất không cho phép bất cứ sự trở lại nào của “những chính sách và hoạt động mang tính diệt chủng của chính quyền Pôn Pốt”. Nhưng tới năm 1989, Đại Hội đồng Thành viên Liên Hiệp Quốc vẫn từ chối xác nhận những thủ phạm đã gây ra “những chính sách và hoạt động bị lên án rộng rãi trong quá khứ gần đây”. Năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an chỉ bày tỏ sự lấy làm tiếc về “một số chính sách và hoạt động trong quá khứ”, nhưng không nói một cách cụ thể, không nêu thủ phạm, và không nói rõ thời gian xảy ra.

– Năm 1990, Tiểu Ban Quyền Con người của Liên Hiệp Quốc từng cân nhắc lên án “nạn diệt chủng xảy ra dưới thời chính quyền Khmer Đỏ”, và yêu cầu các quốc gia “đưa ra trước tòa những thủ phạm gây tội ác chống lại loài người ở Campuchia, ngăn chặn những kẻ này quay trở lại các vị trí lãnh đạo trong chính phủ”. Tuy nhiên, Tiểu ban cuối cùng phải loại bỏ nội dung này trong chương trình, sau khi gặp phải một số ý kiến cho rằng nó “không có lợi” cho Liên Hiệp Quốc. Phải tới năm 1991 Tiểu Ban mới ra đề nghị “cộng đồng quốc tế ngăn chặn sự lặp lại của nạn diệt chủng ở Campuchia”. Vào thời điểm này, Washington đã cam kết ủng hộ việc đưa Khmer Đỏ ra tòa. Thế nhưng sang năm sau, giám đốc cơ quan Quyền Con người Liên Hiệp Quốc tại Campuchia lại phàn nàn rằng cơ quan này “hoàn toàn không có khả năng hoạt động tại một trong số các khu vực” ở Campuchia” – một lời phê phán yếu ớt về sự chống đối từ phía Khmer Đỏ. Ông này còn cố tình làm giảm nhẹ tính nghiêm trọng của nạn diệt chủng giai đoạn 1975-1979 bằng cách gọi thời gian này là một phần trong “những thập kỷ của xung đột, nổi dậy, và sự đối đầu”. Và cho đến tận năm 2006 chế độ diệt chủng Khmer Đỏ mới được đưa ra xét xử.

Suốt thời gian đó Mỹ, Trung Quốc và các nước khác đã đem lại cho Việt Nam được gì hay vịn vào cớ “xâm lược Campuchia” để cấm vận Việt Nam cho đến năm 1994 mới gỡ bỏ cấm vận kinh tế. Thử hỏi nếu Việt Nam không đưa quân sang đánh đổ Pôn Pốt thì Campuchia hiện giờ sẽ đi về đâu? Có tận mắt chứng kiến mới hiểu thế nào là tàn bạo, là dã man của chế độ đó, đến chùa Ba Chúc mới thấy được Pôn Pốt đã làm gì, không phải tự nhiên nhân dân Campuchia khi đó gọi QĐND Việt Nam là “Bộ đội nhà Phật”.

Nhân loại nợ Việt Nam một lời cám ơn, khi đã cứu cả một dân tộc khỏi họa diệt chủng, cứu thế giới khỏi bè lũ đồ tể khát máu Pôn Pốt, con đẻ từ chính sách khủng bố của Mỹ, Trung Quốc và bè lũ phương Tây nuôi dưỡng.

Thế giới nợ Việt Nam một lời xin lỗi, khi đã dồn người dân nước ta tới tận cùng của sự khổ cực, trong khi vẫn phải căng mình thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, lại đánh trả bọn bành trướng ở phía bắc bảo vệ Tổ Quốc. Việt Nam chỉ làm được cho thế giới bấy nhiêu thôi các bạn.

Còn đối với các nước suốt ngày rao giảng về nhân quyền, họ chỉ là những kẻ to mồm, họ chỉ vì lợi ích của bản thân họ. Họ lớn tiếng phán xét một đất nước nào đó chỉ vì họ lắm tiền nhiều của và ép buộc các nước khác nghe theo mà thôi.

Lịch sử không phải được viết bởi người chiến thắng, lịch sử được viết bởi xương máu và nước mắt của một dân tộc. Lịch sử một dân tộc có lúc thăng, lúc trầm nhưng lịch sử một dân tộc không phải dành cho những kẻ phán xét về nó.

Học lịch sử không phải để thi đạt điểm cao mà học lịch sử để hiểu và có cái nhìn đúng đắn, để hiểu rằng có ngày hôm nay dân tộc ta phải đánh đổi những gì và hiểu bản thân chúng ta có trách nhiệm như thế nào đối với Tổ Quốc.

Việt Nam rất sợ chiến tranh bởi chiến tranh không phải trò đùa nhưng Việt Nam cũng chưa bao giờ e ngại và sẵn sàng tiêu diệt bất cứ kẻ thù nào muốn xâm phạm một tấc đất linh thiêng của Tổ Quốc. Dân tộc Việt Nam chỉ đơn giản như vậy đó.

VỀ VIỆC GẮN LÍ LUẬN VỚI THỰC TIỄN TRONG GIẢNG DẠY LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ.

 

Th.s: Giang Quỳnh Hương (Sưu Tầm)

Lý luận là sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp các tri thức

về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong quá trình lịch sử, tiêu chuẩn của một

lý luận khoa học là nó phản ánh đúng bản chất qui luật của đối tượng nhận thức

và phải được khái quát thành một hệ thống bao gồm các khái niệm phạm trù

nhất định. Lý luận giữ vai trò định hướng chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con

người để nhằm đạt được kết quả cao nhất.

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính xã hội – lịch sử của con

người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Thực tiễn có vai trò đặc biệt to lớn đối

với lí luận, là cơ sở, điểm xuất phát, là động lực cho sự phát triển của lí luận,

đồng thời là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý.

Về vấn đề lý luận phải liên hệ thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định

“Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa

Mác - Lênin… lý luận mà không liên hệ với thực tế là lý luận suông” 1 , đó là thứ

lý luận xa rời và không giúp ích gì cho thực tế cuộc sống. Lý luận là sự tổng kết

những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã

hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Nhưng lí luận không phải là một cái gì

đứng im, chết cứng mà nó luôn luôn cần đến thực tiễn để được thực tiễn bổ

sung, hoàn thiện bằng những kết luận mới trong những điều kiện, hoàn cảnh

mới. Mặt khác, lý luận là kết quả của tư duy trừu tượng, được khái quát hóa

thành những nguyên lí phổ biến, những quy luật; dó đó Người nói : lý luận “phải

cụ thể hóa … cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”. Và

một vấn đề nữa, theo Hồ Chí Minh lý luận liên hệ với thực tế còn là ở chỗ “mục

đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lí luận”. Người nói : “Lý

luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công

việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lí luận,

nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào cái một hòm đựng sách” 2 .

Giáo dục lí luận chính trị, theo Hồ Chí Minh, là giáo dục chính trị, truyền

 

bá chủ nghĩa Mác – Lênin, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên

và quần chúng nhân dân, nhằm thống nhất về tư tưởng, ý chí, phẩm chất cách

mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng những

hiểu biết ấy vào cuộc sống. do đó, gắn lí luận với thực tiễn trong giáo dục lí luận

chính trị là nguyên tắc cơ bản.

Trên cơ sở xác định phương châm như vậy, Người yêu cầu người dạy và

người học phải tuân thủ theo những cách thức, phương pháp nhất định trong quá

trình giảng dạy và học tập lí luận chính trị.

Đối với giáo viên, Người căn dặn: “các chú dạy cán bộ, đảng viên về Chủ

nghĩa Mác – Lênin chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho họ

hiểu Chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không” 3 . “Trường Đảng là một trường

học để đào tạo những chiến sỹ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô

sản, chứ không phải biến các đồng chí thành những người lí luận suông mà

nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn” 4 . “Đảng ta tổ chức

trường học lý luận cho cán bộ để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng để

giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế…, để Đảng ta

có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng

của mình” 5 .

Như vậy, đối với Trường Đảng và đội ngũ giảng viên, với mục đích cuối

cùng là để học viên “phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp cách mạng”. Vì thế, trong

quá trình giảng dạy, ngoài trang bị lý luận chính trị, người giảng viên phải gắn

với thực tiễn, bám sát tình hình thực tiễn để người học hiểu và nắm chắc lý luận.

Và quan trọng hơn, người giảng viên phải giúp cho học viên biết cách vận dụng

vận dụng lý luận vào thực tiễn.

Đối với người học, Người dạy: “Học lý luận không phải để nói mép…

Học để áp dụng vào việc làm. Làm mà không có lý luận thì không khác nào đi

mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được

mọi chuyện trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho

đúng” 6 . Người chỉ rõ: “Học tập Chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập tinh thần xử

trí mọi việc đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những

 

nguyên lí phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào

hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta. Học để làm, lý luận đi đôi với thực tiễn” 7 . Ngắn

gọn mà đầy đủ, sâu sắc, Người đã yêu cầu giáo dục lí luận chính trị phải biết gắn

lí luận với thực tiễn cuộc sống, công tác.

Quán triệt thực hiện tinh thần chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng

thời bám sát yêu cầu của chuyên ngành giảng dạy, trong thời gian qua, các giảng

viên phụ trách phần học “Nghiệp vụ công tác đoàn thể” (trước đây gọi là công

tác Dân vận) đã có nhiều cố gắng để nâng cao tính thực tiễn trong bài giảng và

đạt được những kết quả nhất định.

Từ thực tiễn công tác giảng dạy trong thời gian qua, chúng tôi suy nghĩ,

để nâng cao tính thực tiễn trong bài giảng lí luận chính trị cần quan tâm đến một

số vấn đề sau đây:

Trước hết, giảng viên phải nắm vững các nội dung lý luận mà mình đảm

nhiệm giảng dạy, để qua đó có sự lựa chọn đúng. Không phải tất cả các nội dung

lý luận trong bài giảng đều cần có liên hệ thực tế, mà chỉ ở những vấn đề nào

quan trọng, cần thiết nhấn mạnh, khó hiểu, hay muốn tăng thêm tính thuyết

phục…

Không chỉ vậy, nắm vững lí luận còn giúp giảng viên lựa chọn được loại

kiến thức thực tiễn nào, ở mức độ nào thì phù hợp. Như chúng ta biết, thực tiễn

rất rộng và đa dạng, như Hồ Chủ tịch đã nói : “Thực tế của chúng ta là những

vấn đề mà cách mạng đề ra cho ta giải quyết. Thực tế bao gồm rất rộng. Nó bao

gồm kinh nghiệm công tác tư tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của

Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới. Đó là những thực tế mà

chúng ta cần liên hệ …” 8. . Một vấn đề lí luận có thể có nhiều hiện tượng, hoạt

động thực tiễn để liên hệ, phân tích, chứng minh; và một bài giảng cần gắn lí

luận với thực tiễn không chỉ một, hai lần. Do đó để tránh sự trùng lặp, đơn điệu

cũng như để các liên hệ thực tiễn đưa vào bài giảng sát, phù hợp với những vấn

đề lí luận định làm rõ, chứng minh thì nhất thiết giảng viên phải nắm vững kiến

thức lí luận của từng tiết mục, từng bài và toàn bộ nội dung mà mình đảm

nhiệm.

 

Thứ hai, giảng viên phải thường xuyên bám sát thực tiễn. Kết hợp các

phương thức khác nhau để tiếp cận với các hình thức, các mức độ của thực tiễn.

Ví dụ: đi thực tế cơ sở (xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp…), gặp gỡ trao đổi

với cán bộ, hội viên nông dân, phụ nữ, đến với các tổ chức công đoàn cơ sở gặp

gỡ cán bộ, đoàn viên công đoàn, công nhân; thăm quan các các mô hình lao

động sản xuất, để có thực tiễn trực tiếp sinh động, thời sự. Hoặc tích cực khai

thác thông tin ở các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo, tạp chí,

Internet,…) để có thực tiễn đa chiều, rộng lớn đã được chọn lọc, phân tích. Và

chịu khó nghiên cứu các tài liệu chính thống, nhất là các văn kiện Hội nghị, Đại

hội Đảng,…đây là dạng thực tiễn có độ tin cậy cao, vừa có tính cụ thể, vừa có

tính khái quát. Có thể nói, ở thời điểm hiện nay, giảng dạy phần học Nghiệp vụ

công tác đoàn thể ở cở sở có nhiều thuận lợi mà một phần nguyên nhân là nhờ

có hệ thống kiến thức thực tiễn từ các văn bản chính thống này. Ví dụ: giảng dạy

chuyên đề “Công tác vận động công nhân…”, khi liên hệ thực tiễn thì Văn kiện

Hội nghị lần thứ sáu BCHTW khóa X (2008) “về tiếp tục xây dựng giai cấp

công nhân Việt Nam thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH” cung cấp nhiều số liệu, sự

kiện; hoặc khi giảng các chuyên đề “Công tác vận động nông dân…”, “Công tác

vận động phụ nữ…”, “Công tác vận động thanh niên…”, giảng viên có thể khai

thác được nguồn kiến thức thực tiễn phong phú, chất lượng từ các Nghị quyết

liên quan như: Nghị quyết 11 ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về tăng cường

công tác phụ nữ trong thời kì mới, Nghị quyết 25 của BCHTW khóa X (2008)

về tăn cường sự lãnh đạo công tác thanh niên thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH,

Nghị quyết về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn…

Thứ ba, nắm bắt được đối tượng học viên.

Cùng một chuyên đề nhưng giảng dạy tại các lớp học vùng thành phố, đồng

bằng, không thể đồng nhất với các lớp vùng trung du, miền núi, hoặc giảng dạy

tại các lớp đại đa số học viên là thanh niên thế hệ trẻ, không thể giống với lớp đa

số học viên lớn tuổi. Nắm bắt được đối tượng sẽ giúp lựa chọn kiến thức thực

tiễn hoặc cách khai thác nhấn mạnh khía cạnh nào trong cùng một sự kiện để

phù hợp đối tượng..

 

Thứ tư, phải đảm bảo tính khoa học khi đưa các yếu tố thực tiễn vào bài giảng

đó là: yếu tố thực tiễn đưa vào bài giảng phải có tính điển hình, tính thời sự, tính

chính xác, có địa chỉ rõ ràng và phù hợp nội dung lí luận đang cần được phân

tích chứng minh.

Và tiếp đến là lòng yêu nghề, có lẽ đây là một trong những yếu tố quan

trọng bậc nhất. Trên nền tảng nắm vững lí luận, bám sát thực tiễn, lòng yêu nghề

sẽ thổi hồn cho bài giảng chính trị trong điều kiện hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 1995, tập 8, tr496.

2. (Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG HCM, 1995, tập 5, tr 234)

3. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, tập 2, tr259

4. Sđd, tập 8, tr496)

5. Sđd, tập 8, tr492

6. (Sđd, tập 6, tr47)

7.(Sđd, tập 9, tr292)

8.(Hồ Chí Minh: Về trí thức và cách mạng, Nxb ST, HN, 1976, tr59)

 

 

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY GIA ĐÌNH VIỆT NAM 28/06

 

                                                                       Nguyễn Thị Thu Châu

Khoa lý luận chính trị - ĐH Tây Bắc

Gia đình là một tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển đều phải biết chăm sóc và bảo vệ gia đình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, việc quan tâm đến gia đình là đúng vì: "Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình".

1. Lịch sử Ngày Gia đình Việt Nam

Thực hiện lời Bác, ngày 28/6/2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 55- CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng của cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Ngày 04/5/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg về ngày Gia đình Việt Nam. Quyết định nêu rõ: lấy ngày 28/6 hàng năm là ngày Gia đình Việt Nam,nhằm đề cao trách nhiệm lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

2. Ý nghĩa Ngày Gia đình Việt Nam

Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam giữ gìn, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước.

Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

Ngày Gia đình Việt Nam là một sự kiện văn hóa lớn nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam, là dịp để các gia đình giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng gia đình văn hóa, hướng tới sự phát triển bền vững của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đây cũng là ngày mọi người trong gia đình quan tâm đến nhau, xã hội quan tâm đến trẻ nhỏ và những người không có bố mẹ, cặp vợ chồng phải hiểu được giá trị mái ấm và cùng nhau vượt qua sóng gió để có một gia đình hạnh phúc.

 
 

3. Cách thu hẹp khoảng cách thế hệ trong các gia đình

1. Giao tiếp hiệu quả 

Giao tiếp là một cách rất quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa các thế hệ. Nói chuyện với con trẻ, hiểu thế giới của chung, và cố gắng giúp chúng hiểu sự khác biệt như thế nào giữa thế hệ trước với thế hệ sau. Chính sự tương tác này giúp cho hai hoặc nhiều thế hệ có thể dần hiểu được những thói quen, lối suy nghĩ, truyền thống của nhau, qua đó hiểu và nhận diện được những sự khác biệt này một cách rõ ràng nhất, tránh xảy ra những hiểu lầm sau này. Lắng nghe và chấp nhận những suy nghĩ của họ. Một sự giao tiếp cởi mở là một cách rất lành mạnh để thu hẹp khoảng cách thế hệ. 

2. Hãy cập nhật các xu hướng hiện tại 

Nếu bạn muốn hiểu và bắt kịp với những tiến bộ mà con trẻ đang áp dung, bạn cần phải hiểu về thế giới của chúng, ngôn ngữ chúng sử dụng, và biết các xu hướng và công nghệ mà khiến giới trẻ hiện nay phát sốt. Nếu bạn làm được như vậy, thông tin liên lạc giữa bạn và thế hệ sau sẽ dễ dàng hơn và bạn cũng có thể để mắt đến chúng nhiều hơn.

3. Đừng so sánh 

Mỗi một thế hệ đều được sinh ra và trưởng thành trong những môi trường, hoàn cảnh khác nhau. Đừng bao giờ ép buộc các thế hệ sau phải suy nghĩ hay so sánh hành động chúng làm với giai đoạn sống của mình. Nếu lối suy nghĩ cổ hủ này bị ăn sâu vào những thế hệ tiếp, chúng sẽ khiến con trẻ trở thành những kẻ tụt hậu trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Hãy chấp nhận thực tế đó là mọi thứ xung quanh đã thay đổi đáng kể so với quá khứ khi bạn lớn tuổi. Vì vậy, đừng so sánh và hãy cho phép thế hệ sau được tận hưởng và sống trong cái thế giới thực tại chúng được sinh ra các bạn nhé! 

4. Sự linh hoạt 

Sự linh hoạt là điều mà các bậc phụ huynh cần nhớ khi muốn thu hẹp khoảng cách với con cái. Sự linh hoạt này cần phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của con trẻ để giúp chúng phát triển một cách đúng và không được đi quá đà. Vai trò của các bậc phụ huynh là điều không kém phần quan trọng. Cha mẹ nên dễ chấp nhận thay đổi và linh hoạt hơn trong ý tưởng của họ. Bạn cần phải hiểu được nhu cầu ngày càng tăng của trẻ em của bạn và giúp họ phát triển theo thời gian. 

5. Dạy thế hệ sau về những giá trị cốt lõi gia đình 

Thời gian cố thể tiếp tục thay đổi nhưng điều đó không có nghĩa là những giá trị truyền thống, cót lõi của gia đình bị mai một, mất đi. Các bậc phụ huynh cần dạy cho con trẻ việc tôn trọng và tuân theo những giá trị này một phần là truyền thống thật nhưng chúng sẽ giúp cho chúng trở thành những con người đứng đắn, có nhân cách mặc dù sống trong thế giới hiện đại.

Các thông điệp truyền thông cho ngày Gia đình Việt Nam là:

1. Toàn dân tích cực ưởng ứng Ngày Gia đình Việt Nam 28/6;   

2. Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương;   

3. Gia đình là nơi bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc; 

4. Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ truyền thống tốt đẹp trong gia đình;   

5. Gia đình là tế bào của xã hội, thành trì của Tổ quốc;   

6. Xây dựng môi trường văn hóa gia đình - cộng đồng - xã hội văn minh

7. Hãy hành động vì một mái ấm gia đình không có bạo lực./.

                                                                                           St.