Tin tức - Sự kiện

VỀ VIỆC GẮN LÍ LUẬN VỚI THỰC TIỄN TRONG GIẢNG DẠY LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ.

 

Th.s: Giang Quỳnh Hương (Sưu Tầm)

Lý luận là sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp các tri thức

về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong quá trình lịch sử, tiêu chuẩn của một

lý luận khoa học là nó phản ánh đúng bản chất qui luật của đối tượng nhận thức

và phải được khái quát thành một hệ thống bao gồm các khái niệm phạm trù

nhất định. Lý luận giữ vai trò định hướng chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con

người để nhằm đạt được kết quả cao nhất.

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính xã hội – lịch sử của con

người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Thực tiễn có vai trò đặc biệt to lớn đối

với lí luận, là cơ sở, điểm xuất phát, là động lực cho sự phát triển của lí luận,

đồng thời là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý.

Về vấn đề lý luận phải liên hệ thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định

“Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa

Mác - Lênin… lý luận mà không liên hệ với thực tế là lý luận suông” 1 , đó là thứ

lý luận xa rời và không giúp ích gì cho thực tế cuộc sống. Lý luận là sự tổng kết

những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã

hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Nhưng lí luận không phải là một cái gì

đứng im, chết cứng mà nó luôn luôn cần đến thực tiễn để được thực tiễn bổ

sung, hoàn thiện bằng những kết luận mới trong những điều kiện, hoàn cảnh

mới. Mặt khác, lý luận là kết quả của tư duy trừu tượng, được khái quát hóa

thành những nguyên lí phổ biến, những quy luật; dó đó Người nói : lý luận “phải

cụ thể hóa … cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”. Và

một vấn đề nữa, theo Hồ Chí Minh lý luận liên hệ với thực tế còn là ở chỗ “mục

đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lí luận”. Người nói : “Lý

luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công

việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lí luận,

nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào cái một hòm đựng sách” 2 .

Giáo dục lí luận chính trị, theo Hồ Chí Minh, là giáo dục chính trị, truyền

 

bá chủ nghĩa Mác – Lênin, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên

và quần chúng nhân dân, nhằm thống nhất về tư tưởng, ý chí, phẩm chất cách

mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng những

hiểu biết ấy vào cuộc sống. do đó, gắn lí luận với thực tiễn trong giáo dục lí luận

chính trị là nguyên tắc cơ bản.

Trên cơ sở xác định phương châm như vậy, Người yêu cầu người dạy và

người học phải tuân thủ theo những cách thức, phương pháp nhất định trong quá

trình giảng dạy và học tập lí luận chính trị.

Đối với giáo viên, Người căn dặn: “các chú dạy cán bộ, đảng viên về Chủ

nghĩa Mác – Lênin chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho họ

hiểu Chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không” 3 . “Trường Đảng là một trường

học để đào tạo những chiến sỹ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô

sản, chứ không phải biến các đồng chí thành những người lí luận suông mà

nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn” 4 . “Đảng ta tổ chức

trường học lý luận cho cán bộ để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng để

giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế…, để Đảng ta

có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng

của mình” 5 .

Như vậy, đối với Trường Đảng và đội ngũ giảng viên, với mục đích cuối

cùng là để học viên “phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp cách mạng”. Vì thế, trong

quá trình giảng dạy, ngoài trang bị lý luận chính trị, người giảng viên phải gắn

với thực tiễn, bám sát tình hình thực tiễn để người học hiểu và nắm chắc lý luận.

Và quan trọng hơn, người giảng viên phải giúp cho học viên biết cách vận dụng

vận dụng lý luận vào thực tiễn.

Đối với người học, Người dạy: “Học lý luận không phải để nói mép…

Học để áp dụng vào việc làm. Làm mà không có lý luận thì không khác nào đi

mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được

mọi chuyện trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho

đúng” 6 . Người chỉ rõ: “Học tập Chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập tinh thần xử

trí mọi việc đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những

 

nguyên lí phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào

hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta. Học để làm, lý luận đi đôi với thực tiễn” 7 . Ngắn

gọn mà đầy đủ, sâu sắc, Người đã yêu cầu giáo dục lí luận chính trị phải biết gắn

lí luận với thực tiễn cuộc sống, công tác.

Quán triệt thực hiện tinh thần chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng

thời bám sát yêu cầu của chuyên ngành giảng dạy, trong thời gian qua, các giảng

viên phụ trách phần học “Nghiệp vụ công tác đoàn thể” (trước đây gọi là công

tác Dân vận) đã có nhiều cố gắng để nâng cao tính thực tiễn trong bài giảng và

đạt được những kết quả nhất định.

Từ thực tiễn công tác giảng dạy trong thời gian qua, chúng tôi suy nghĩ,

để nâng cao tính thực tiễn trong bài giảng lí luận chính trị cần quan tâm đến một

số vấn đề sau đây:

Trước hết, giảng viên phải nắm vững các nội dung lý luận mà mình đảm

nhiệm giảng dạy, để qua đó có sự lựa chọn đúng. Không phải tất cả các nội dung

lý luận trong bài giảng đều cần có liên hệ thực tế, mà chỉ ở những vấn đề nào

quan trọng, cần thiết nhấn mạnh, khó hiểu, hay muốn tăng thêm tính thuyết

phục…

Không chỉ vậy, nắm vững lí luận còn giúp giảng viên lựa chọn được loại

kiến thức thực tiễn nào, ở mức độ nào thì phù hợp. Như chúng ta biết, thực tiễn

rất rộng và đa dạng, như Hồ Chủ tịch đã nói : “Thực tế của chúng ta là những

vấn đề mà cách mạng đề ra cho ta giải quyết. Thực tế bao gồm rất rộng. Nó bao

gồm kinh nghiệm công tác tư tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của

Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới. Đó là những thực tế mà

chúng ta cần liên hệ …” 8. . Một vấn đề lí luận có thể có nhiều hiện tượng, hoạt

động thực tiễn để liên hệ, phân tích, chứng minh; và một bài giảng cần gắn lí

luận với thực tiễn không chỉ một, hai lần. Do đó để tránh sự trùng lặp, đơn điệu

cũng như để các liên hệ thực tiễn đưa vào bài giảng sát, phù hợp với những vấn

đề lí luận định làm rõ, chứng minh thì nhất thiết giảng viên phải nắm vững kiến

thức lí luận của từng tiết mục, từng bài và toàn bộ nội dung mà mình đảm

nhiệm.

 

Thứ hai, giảng viên phải thường xuyên bám sát thực tiễn. Kết hợp các

phương thức khác nhau để tiếp cận với các hình thức, các mức độ của thực tiễn.

Ví dụ: đi thực tế cơ sở (xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp…), gặp gỡ trao đổi

với cán bộ, hội viên nông dân, phụ nữ, đến với các tổ chức công đoàn cơ sở gặp

gỡ cán bộ, đoàn viên công đoàn, công nhân; thăm quan các các mô hình lao

động sản xuất, để có thực tiễn trực tiếp sinh động, thời sự. Hoặc tích cực khai

thác thông tin ở các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo, tạp chí,

Internet,…) để có thực tiễn đa chiều, rộng lớn đã được chọn lọc, phân tích. Và

chịu khó nghiên cứu các tài liệu chính thống, nhất là các văn kiện Hội nghị, Đại

hội Đảng,…đây là dạng thực tiễn có độ tin cậy cao, vừa có tính cụ thể, vừa có

tính khái quát. Có thể nói, ở thời điểm hiện nay, giảng dạy phần học Nghiệp vụ

công tác đoàn thể ở cở sở có nhiều thuận lợi mà một phần nguyên nhân là nhờ

có hệ thống kiến thức thực tiễn từ các văn bản chính thống này. Ví dụ: giảng dạy

chuyên đề “Công tác vận động công nhân…”, khi liên hệ thực tiễn thì Văn kiện

Hội nghị lần thứ sáu BCHTW khóa X (2008) “về tiếp tục xây dựng giai cấp

công nhân Việt Nam thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH” cung cấp nhiều số liệu, sự

kiện; hoặc khi giảng các chuyên đề “Công tác vận động nông dân…”, “Công tác

vận động phụ nữ…”, “Công tác vận động thanh niên…”, giảng viên có thể khai

thác được nguồn kiến thức thực tiễn phong phú, chất lượng từ các Nghị quyết

liên quan như: Nghị quyết 11 ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về tăng cường

công tác phụ nữ trong thời kì mới, Nghị quyết 25 của BCHTW khóa X (2008)

về tăn cường sự lãnh đạo công tác thanh niên thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH,

Nghị quyết về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn…

Thứ ba, nắm bắt được đối tượng học viên.

Cùng một chuyên đề nhưng giảng dạy tại các lớp học vùng thành phố, đồng

bằng, không thể đồng nhất với các lớp vùng trung du, miền núi, hoặc giảng dạy

tại các lớp đại đa số học viên là thanh niên thế hệ trẻ, không thể giống với lớp đa

số học viên lớn tuổi. Nắm bắt được đối tượng sẽ giúp lựa chọn kiến thức thực

tiễn hoặc cách khai thác nhấn mạnh khía cạnh nào trong cùng một sự kiện để

phù hợp đối tượng..

 

Thứ tư, phải đảm bảo tính khoa học khi đưa các yếu tố thực tiễn vào bài giảng

đó là: yếu tố thực tiễn đưa vào bài giảng phải có tính điển hình, tính thời sự, tính

chính xác, có địa chỉ rõ ràng và phù hợp nội dung lí luận đang cần được phân

tích chứng minh.

Và tiếp đến là lòng yêu nghề, có lẽ đây là một trong những yếu tố quan

trọng bậc nhất. Trên nền tảng nắm vững lí luận, bám sát thực tiễn, lòng yêu nghề

sẽ thổi hồn cho bài giảng chính trị trong điều kiện hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 1995, tập 8, tr496.

2. (Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG HCM, 1995, tập 5, tr 234)

3. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, tập 2, tr259

4. Sđd, tập 8, tr496)

5. Sđd, tập 8, tr492

6. (Sđd, tập 6, tr47)

7.(Sđd, tập 9, tr292)

8.(Hồ Chí Minh: Về trí thức và cách mạng, Nxb ST, HN, 1976, tr59)

 

 

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY GIA ĐÌNH VIỆT NAM 28/06

 

                                                                       Nguyễn Thị Thu Châu

Khoa lý luận chính trị - ĐH Tây Bắc

Gia đình là một tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển đều phải biết chăm sóc và bảo vệ gia đình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, việc quan tâm đến gia đình là đúng vì: "Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình".

1. Lịch sử Ngày Gia đình Việt Nam

Thực hiện lời Bác, ngày 28/6/2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 55- CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng của cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Ngày 04/5/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg về ngày Gia đình Việt Nam. Quyết định nêu rõ: lấy ngày 28/6 hàng năm là ngày Gia đình Việt Nam,nhằm đề cao trách nhiệm lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

2. Ý nghĩa Ngày Gia đình Việt Nam

Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam giữ gìn, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước.

Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

Ngày Gia đình Việt Nam là một sự kiện văn hóa lớn nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam, là dịp để các gia đình giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng gia đình văn hóa, hướng tới sự phát triển bền vững của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đây cũng là ngày mọi người trong gia đình quan tâm đến nhau, xã hội quan tâm đến trẻ nhỏ và những người không có bố mẹ, cặp vợ chồng phải hiểu được giá trị mái ấm và cùng nhau vượt qua sóng gió để có một gia đình hạnh phúc.

 
 

3. Cách thu hẹp khoảng cách thế hệ trong các gia đình

1. Giao tiếp hiệu quả 

Giao tiếp là một cách rất quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa các thế hệ. Nói chuyện với con trẻ, hiểu thế giới của chung, và cố gắng giúp chúng hiểu sự khác biệt như thế nào giữa thế hệ trước với thế hệ sau. Chính sự tương tác này giúp cho hai hoặc nhiều thế hệ có thể dần hiểu được những thói quen, lối suy nghĩ, truyền thống của nhau, qua đó hiểu và nhận diện được những sự khác biệt này một cách rõ ràng nhất, tránh xảy ra những hiểu lầm sau này. Lắng nghe và chấp nhận những suy nghĩ của họ. Một sự giao tiếp cởi mở là một cách rất lành mạnh để thu hẹp khoảng cách thế hệ. 

2. Hãy cập nhật các xu hướng hiện tại 

Nếu bạn muốn hiểu và bắt kịp với những tiến bộ mà con trẻ đang áp dung, bạn cần phải hiểu về thế giới của chúng, ngôn ngữ chúng sử dụng, và biết các xu hướng và công nghệ mà khiến giới trẻ hiện nay phát sốt. Nếu bạn làm được như vậy, thông tin liên lạc giữa bạn và thế hệ sau sẽ dễ dàng hơn và bạn cũng có thể để mắt đến chúng nhiều hơn.

3. Đừng so sánh 

Mỗi một thế hệ đều được sinh ra và trưởng thành trong những môi trường, hoàn cảnh khác nhau. Đừng bao giờ ép buộc các thế hệ sau phải suy nghĩ hay so sánh hành động chúng làm với giai đoạn sống của mình. Nếu lối suy nghĩ cổ hủ này bị ăn sâu vào những thế hệ tiếp, chúng sẽ khiến con trẻ trở thành những kẻ tụt hậu trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Hãy chấp nhận thực tế đó là mọi thứ xung quanh đã thay đổi đáng kể so với quá khứ khi bạn lớn tuổi. Vì vậy, đừng so sánh và hãy cho phép thế hệ sau được tận hưởng và sống trong cái thế giới thực tại chúng được sinh ra các bạn nhé! 

4. Sự linh hoạt 

Sự linh hoạt là điều mà các bậc phụ huynh cần nhớ khi muốn thu hẹp khoảng cách với con cái. Sự linh hoạt này cần phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của con trẻ để giúp chúng phát triển một cách đúng và không được đi quá đà. Vai trò của các bậc phụ huynh là điều không kém phần quan trọng. Cha mẹ nên dễ chấp nhận thay đổi và linh hoạt hơn trong ý tưởng của họ. Bạn cần phải hiểu được nhu cầu ngày càng tăng của trẻ em của bạn và giúp họ phát triển theo thời gian. 

5. Dạy thế hệ sau về những giá trị cốt lõi gia đình 

Thời gian cố thể tiếp tục thay đổi nhưng điều đó không có nghĩa là những giá trị truyền thống, cót lõi của gia đình bị mai một, mất đi. Các bậc phụ huynh cần dạy cho con trẻ việc tôn trọng và tuân theo những giá trị này một phần là truyền thống thật nhưng chúng sẽ giúp cho chúng trở thành những con người đứng đắn, có nhân cách mặc dù sống trong thế giới hiện đại.

Các thông điệp truyền thông cho ngày Gia đình Việt Nam là:

1. Toàn dân tích cực ưởng ứng Ngày Gia đình Việt Nam 28/6;   

2. Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương;   

3. Gia đình là nơi bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc; 

4. Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ truyền thống tốt đẹp trong gia đình;   

5. Gia đình là tế bào của xã hội, thành trì của Tổ quốc;   

6. Xây dựng môi trường văn hóa gia đình - cộng đồng - xã hội văn minh

7. Hãy hành động vì một mái ấm gia đình không có bạo lực./.

                                                                                           St.

MỘT SỐ KỸ NĂNG SƯ PHẠM TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT

 

ThS. Nguyễn Thị Hương

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định: “Nghề dạy học là nghề cao quý bậc nhất trong các nghề cao quý của xã hội xã hội chủ nghĩa. Các nghề trong chế độ ta đều sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần… Nghề dạy học là nghề sáng tạo bậc nhất vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Một GV giỏi không chỉ là người có chuyên môn tốt mà còn phải thành thạo những kĩ năng nghiệp vụ sư phạm. Thực tế cho thấy, đã không ít trường hợp SV tốt nghiệp loại giỏi, khá ở trường nhưng ra trường vẫn không đáp ứng được yêu cầu của công việc, chưa khẳng định được vị thế của mình trong nghề nghiệp và xã hội. Vì vậy, việc rèn luyện các kỹ năng sư phạm cho những người GV tương lai là một nội dung quan trọng trong các trường đào tạo ngành sư phạm. Để dạy học môn GDCD ở trường THPT đạt hiệu quả tốt người giáo viên cần trang bị cho mình rất nhiều các kỹ năng. Sau đây tôi xin chia sẻ với các bạn SV ngành GDCT một số kỹ năng cơ bản sau:

1. Kỹ năng thiết kế giáo án

Giáo án là kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học. Nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng đã chứng minh thực tế là 60% chất lượng giờ dạy tốt là tùy thuộc vào khâu chuẩn bị soạn giáo án còn lại 40% là tùy thuộc vào năng lực sư phạm và kinh nghiệm của người thầy. Vì vậy GV muốn giảng dạy tốt phải nghiêm túc trong việc soạn giáo án.

Thiết kế giáo án một kỹ năng quan trọng, là kỹ thuật trí tuệ đòi hỏi GV phải có tư duy khoa học, khả năng ước lượng để lựa chọn kiến thức chuẩn xác, đủ về khối lượng để giáo án không bị cháy. Để HS có thể nắm được kiến thức, GV cần lựa chọn PPDH phù hợp với nội dung và đối tượng, phát huy được tính chủ động sáng tạo, của người học. Khi soạn giáo án, GV cần có những kỹ năng nhất định như: kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng lựa chọn nội dung bài học, kỹ năng lựa chọn PPDH

* Khi xác định mục tiêu, GV cần khẳng định được những kỹ năng người học cần đạt được sau bài học. Những kỹ năng đó cần phải phù hợp với chuẩn kiến thức kỹ năng mà Bộ GD ĐT quy định, phù hợp với trình độ của đối tượng học và phải được biểu đạt bằng những từ chỉ hành động cụ thể, ví dụ: trình bày, phân tích, giải thích, mô tả,…

* Dẫn nhập để tạo tâm thế tích cực cho người học là một phần việc quan trọng. GV có thể giới thiệu một hình ảnh, kể câu chuyện, nêu một vấn đề cần giải quyết… Không nên lúc nào cũng rập khuôn bằng một câu chuyển giảng, nếu người học không cảm thấy hứng thú, giờ học sẽ không hiệu quả. Khi thể hiện phần dẫn nhập trong giáo án, GV chỉ cần nêu tên hoạt động, không cần thiết phải thể hiện chi tiết câu chuyện, vấn đề mình dự định sẽ nói. (Tuy nhiên đối với giáo sinh kiến thực tập các em nên thể hiện chi tiết câu chuyện, vấn đề mình cần nói để chủ động hơn, logic hơn, không bị lúng túng trên bục giảng)
          * Lựa chọn nội dung bài học, GV cần tránh nhầm lẫn với nội dung chương trình. Chúng ta chỉ nên đưa vào giáo án những nội dung cần thiết, phù hợp đối tượng học, không nhất thiết phải lo lắng khi loại bỏ một số nội dung chương trình ra khỏi giáo án. Chỉ cung cấp những gì người học cần chứ không phải những gì chúng ta có. (Ngay cả trong phân phối chương trình cũng rất linh hoạt, cho phép GV lựa chọn nội dung giảng dạy phù hợp với đặc điểm vùng miền)

* Thiết kế hoạt động dạy học là một công việc cần sự đầu tư kỹ lưỡng của GV. Đây là phần trọng tâm, thể hiện toàn bộ kịch bản của giờ dạy. Những phương pháp nào cần phải vận dụng, những tình huống học tập nào cần đưa vào bài… Để thiết kế hoạt động dạy – học cho 1 giờ học thường gồm 5 bước: Bước 1: Phân tích nội dung học tập; Bước 2: Phân tích kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm hiện có của HS; Bước 3: Xây dựng tình huống học tập; Bước 4: Thiết kế hoạt động của HS; Bước 5: Thiết kế hoạt động tổ chức và hướng dẫn

Khi thể hiện trong giáo án, người GV cần nêu rõ cách thức triển khai hoạt động cụ thể của giáo viên và học sinh, đồng thời nêu rõ mục tiêu của các hoạt động đó, tránh việc chỉ nêu tên phương pháp (Giáo án mới được áp dụng yêu cầu ghi rõ hoạt động dạy học chứ không phải là nêu tên PP như mẫu cũ trước kia).

Trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy học, GV cần sử dụng nhiều PP khác nhau để tránh gây nhàm chán cho người học, điều quan trọng là dù sử dụng PP nào thì cũng không nên kéo dài quá 20 phút với một PP.

* Lựa chọn phương tiện dạy học, GV cần xem xét đến các yếu tố cơ bản sau: Mục đích sư phạm cụ thể; Đặc điểm môn học; Mục tiêu học tập chung; Đặc điểm đối tượng; Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc dạy học và điều kiện cơ sở vật chất thực tế của nhà trường.

Thiết kế giáo án là một công việc thường xuyên của GV trước khi lên lớp. Một khi giáo án được chuẩn bị kỹ lưỡng, công phu thì sẽ giúp cho GV có được sự tự tin, từ đó quyết định rất lớn đến sự thành công của GV trong giờ giảng.

2. Kỹ năng xây dựng bài giảng điện tử

Hiện nay cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy học ngày càng được trang bị đầy đủ, việc ứng dụng CNTT vào dạy học ngày càng trở nên phổ biến. Vậy người GV cần ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD như thế nào để đạt hiệu quả cao?

Để phục vụ cho công tác giảng dạy, đối với môn GDCD kho tư liệu là điều 
kiện cần thiết và đặc biệt quan trọng vì đặc trưng của bộ môn GDCD là bộ môn 
trang bị cho học sinh hệ thống những tri thức đa dạng, phong phú: Triết học, đạo 
đức, chính trị, pháp luật. Những bài dạy về đạo đức, chính trị, pháp luật đòi hỏi 
có tính thực tiễn cao. Do vậy giáo viên dạy GDCD phải chú trọng cập nhật những thông tin, số liệu mới phục vụ cho quá trình giảng dạy đạt được hiệu quả. 

- Trước đây giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc, tham khảo tài 
liệu, sách báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tư liệu. Hiện nay việc 
ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu thuận lợi, phong phú, 
khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước, việc khai thác tư liệu có 
thể lấy từ các nguồn: Khai thác thông tin, tranh ảnh từ mạng internet.  Khai thác từ băng hình, phim, video, các phần mềm tranh ảnh, bản đồ, hình 
vẽ... thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính. Khai thác các hình ảnh tĩnh, động, các phần mềm trên các đĩa CD- ROM, 
VCD... Chỉ cần kích chuột vào insert /Picture /prom file... vào ổ đĩa CD-ROM lựa chọn tranh, ảnh, hình vẽ cần tìm rồi đưa vào bài giảng.

Từ các nguồn khai thác trên giáo viên sẽ lưu trữ cho mình một thư viện tư 
liệu phong phú, đa dạng để phục vụ cho công tác giảng dạy. Tuy nhiên cần lưu 
trữ thành các file dữ liệu để dễ dàng tìm kiếm khi sử dụng như: các dữ liệu về hình ảnh dân số, tài nguyên và mô 
trường, về vấn đề ATGT, về các tệ nạn xã hội, về các hoạt động đền ơn đáp 
nghĩa, về các thắng cảnh của quê hương đất nước, và một số di tích lịch sử của 
địa phương và của đất nước…

Chúng ta có thể sử dụng giáo án điện tử để dạy các bài có tính chất thuyết 
trình, kiến thức trừu tượng, đặc biệt là những bài học mà có thể khai thác các tư 
liệu, hình ảnh, video, phần mềm ... 

* Quy trình thiết kế một bài giảng điện tử: 

         - Xác định rõ mục tiêu bài dạy

         - Xác định kiến thức cơ bản, nội dung trọng tâm. 

- Lựa chọn tư liệu tranh, ảnh, phim, thông tin cần thiết phục vụ bài dạy.

- Lựa chọn các phần mềm, trình diễn, hiệu ứng ... để xây dựng tiến trình dạy học thông qua hoạt động cụ thể.

- Chạy thử, sửa chữa và hoàn thiện bài giảng.

3. Kỹ năng trình bày bảng

Trình bày bảng cũng là một kỹ năng quan trọng của mỗi GV khi đứng lớp. Khi trình bày bảng người GV cần chú ý thực hiện đúng các bước sau:

Bước 1 - Quan sát và kiểm tra bảng: Ở bước này phải chắc là mặt bảng sạch, bảng đã được bắt cố định, chắc chắn không rung. Đồng thời giáo viên cũng nên lập dàn ý nội dung viết chính xác, dự kiến cách bố trí nội dung lên bảng.

Bước 2 - Chia bảng: Thông thường GV đều chia thành ba phần đều nhau bằng phấn. Việc phân chia này sẽ đảm bảo các nội dung GV trình bày trên bảng là đầy đủ, khoa học.

Bước 3 - Sử dụng bảng: Với việc đã phân chia bảng thành 3 phần riêng biệt như trên thì trong quá trình trình bày bảng giáo viên nên lưu ý:

Phần giữa bảng bên trên ghi tên bài. Ghi bằng chữ in hoặc chữ thường cỡ chữ to, có thể dùng phấn màu gạch chân tên bài giảng.

Phần bên trái bảng viết dàn bài, giữ cố định không xóa (trong suốt quá trình giảng bài). Đây được xác định như xương sống của bài giảng. Bài học gồm những nội dung cơ bản nào được liệt kê và ghi rõ vào đây. Với những nội dung bài giảng cụ thể, ngoài việc kết hợp các phương pháp giảng dạy khác nhau và những phương tiện kỹ thuật cần thiết thì việc giáo viên ghi những đề mục, dàn bài lên bảng sẽ đảm bảo việc ghi nhớ cho người học sau tiết giảng vì người học có thể ghi và lưu giữ kiến thức bài học thông qua những nội dung, dàn ý này.

Phần giữa bảng dùng để giải thích, vẽ, phân tích, xóa thường xuyên. Những kiến thức liên quan đến nội dung giảng dạy được giáo viên sử dụng và thể hiện ở nội dung phần trung tâm của bảng.

Phần bên phải bảng ghi từ khóa hoặc ý tưởng quan trọng của chủ đề, học sinh làm bài tập. Với những nội dung giảng dạy mang tính chất bản lề làm tiền đề vào nội dung bài mới như phác họa lại bài cũ, hay hệ thống lại toàn bài được dành thực hiện ở phần bảng này. Phần thực hiện của học sinh sẽ được lưu giữ làm cơ sở so sánh với nội dung bài học trước (hệ thống bài) hoặc làm cơ sở để phát triển nội dung bài học mới.

Nghệ thuật trình bày của GV được thể hiện qua việc viết và trình bày nội dung trên bảng. Trong quá trình trình bày bảng cần bảo đảm các yêu cầu sau: Chữ viết, hình vẽ phải rõ ràng đủ để mọi người quan sát được. Ghi bảng đẹp, gọn, tập trung và bám lấy trọng tâm. Làm nổi bật tên bài và các đề mục: Tên bài (Ghi chữ in hoặc chữ thường với cỡ chữ to đậm); Đề mục (gạch chân, viết đậm…, khi đánh đề mục thì mục nhỏ lùi sâu hơn so với mục lớn theo thứ tự: I, 1, a, –, +). GV đứng xa bảng khoảng 20 cm và đứng sang một bên để tận dụng được ánh sáng, bảo đảm HS dễ quan sát, ghi chép và GV quan sát lại được HS. Cầm phấn thoải mái, khi viết bảng xoay đầu phấn theo chiều kim đồng hồ.

 Vẽ trên bảng: Nên vẽ phác trước, chỉ vẽ những hình đơn giản, đối với hình, sơ đồ phức tạp có thể chuẩn bị vẽ, in ra giấy khổ lớn, hoặc sử dụng máy chiếu.

 Xóa bảng: Theo nguyên tắc là những nơi nào xóa trước sẽ khô trước và chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc xóa từ trên xuống và từ trái sang phải như vậy sẽ đảm bảo chắc chắn bảng của bạn luôn ở tư thế sẵn sàng cho bạn viết, vẽ.

Mẹo nhỏ của giáo viên khi viết bảng: Luôn bẻ phấn ngắn (lý tưởng là 2 cm), mục đích tránh gãy phấn khi viết, đồng thời đề phòng trường hợp quên giáo án có thể lợi dụng cơ hội đổi phấn mới, ngó lại giáo án. Viết phấn, lau bảng chỉ sử dụng một tay, tay còn lại sử dụng để chấn chỉnh trang phục... Tránh khi mồ hôi nhiều, GV dùng tay để lau, phấn ra hết mặt mũi. Trong trường hợp quên kiến thức... GV quay lại lau bảng, vừa lau vừa nhớ lại.

4.     Kỹ năng giao tiếp sư phạm

Giao tiếp sư phạm là một nghệ thuật mà người GV cần rèn luyện hàng ngày. Muốn có kỹ năng giao tiếp sư phạm tốt người GV cần chú ý:

Một là, nhân cách mẫu mực trong giao tiếp sư phạm: GV hàng ngày tiếp xúc với HS, mọi hành vi, cử chỉ, cách nói năng của thầy cô đều trực tiếp tác động vào HS. Do vậy, nhân cách của GV đặc biệt là người GV dạy môn GDCD phải là người có nhân cách mẫu mực cho HS noi theo. Biểu hiện của nhân cách mẫu mực là: Sự mẫu mực về trang phục, hành vi cử chỉ, hành vi ngôn ngữ nói phải thống nhất; Thái độ phù hợp với các phản ứng hành vi; Sử dụng hành vi ngôn ngữ phong phú, phù hợp với tình huống, nội dung và đối tượng giao tiếp. Việc rèn luyện nhân cách mẫu mực tạo ra uy tín đảm bảo thành công trong giao tiếp sư phạm.

Cụ thể là GV không nên ăn mặc luộm thuộm, lôi thôi, hoặc loè loẹt, kiểu cách quá. Khi lên lớp GV cần có cử chỉ hoà nhã, đi đứng khoan thai, không hấp tấp vội vàng. Khi đứng lớp, GV cần giữ tư thế đứng nhiều hơn là ngồi, nếu có thể, nên đi tới gần bàn học sinh để tạo sự hòa đồng. Thái độ ôn tồn hoà nhã, sẵn sàng tiếp thu những ý kiến (dù là phản kháng, đối lập), không gằn gọc gắt gỏng. Khi giảng bài, người GV phải cố gắng rèn luyện cho được khả năng ngôn ngữ tổng hợp (ngôn ngữ nói + ngôn ngữ đàm thoại + ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ), để từ đó vận dụng vào nghệ thuật giảng dạy của mình, bằng cách sử dụng ngôn ngữ diễn cảm. Khi giảng bài cũng cần phải chú ý đến giọng nói, từ âm điệu đến âm độ khi thì hùng hồn đanh thép, lúc thì uyển chuyển mạch lạc, có khi thì thiết tha truyền cảm, đôi lúc lại dí dỏm vui tươi, khoan thai hóm hỉnh, khi bổng khi trầm, từng âm sắc chuyển theo mạch cảm xúc sẽ có giá trị thuyết phục cao.

Hai là, tôn trọng nhân cách trong giao tiếp: Trong giao tiếp coi học sinh là con người với đầy đủ các quyền được vui chơi, học tập, lao động, bình đẳng trong các mối quan hệ xã hội. Tôn trọng  nhân cách học sinh, có thể quan sát các biểu hiện: Biết lắng nghe học sinh trình bày ý muốn, nguyện vọng của mình, không nên ngắt lời học sinh; Biết thể hiện các phản ứng biểu cảm của mình một cách chân thành với HS; Không dùng các câu từ xúc phạm đến nhân cách học sinh; Tránh những hành vi bộc phát, ngẫu nhiên khi tiếp xúc với học sinh,... Tôn trọng nhân cách học sinh chính là tôn trọng nhân cách giáo viên.

Ba là, có thiện chí trong giao tiếp:Nhiệm vụ của GV là truyền đạt tri thức cho HS, với thiện chí của mình GV đem hết tài năng, trí lực ra hướng dẫn HS. Thiện ý của GV rõ nét nhất trong đánh giá, nhận xét HS khi làm bài. Trong trường hợp đặc biệt, GV “tạm ứng niềm tin” để HS phấn đấu vươn lên. Thiện ý còn thể hiện trong việc giao công việc của  lớp cho HS. Đôi lúc GV còn phải làm “trọng tài” phân xử việc mất sách giáo khoa, mất tiền,… những trường hợp này đòi hỏi GV đặc biệt là người GV dạy GDCD phải có hành vi ứng xử hướng thiện và hành thiện. Giúp HS nhận thức rằng khi GV trách phạt, phê bình, phạt lao động… đều xuất phát từ thiện ý tốt của  thầy cô vì sự trưởng thành nhân cách HS.

Bốn là, đồng cảm trong giao tiếp: Nguyên tắc này được hiểu là giáo viên biết đặt vị trí mình vào vị trí học sinh trong quá trình giao tiếp sư phạm. Nhờ có sự đồng cảm, giáo viên mới có biện pháp giảng dạy, giáo dục có hiệu quả. Đồng cảm là cơ sở hình thành mọi hành vi ứng xử nhân hậu, độ lượng, khoan dung đối với học sinh. Ngược với sự đồng cảm là cách giải quyết cứng nhắc theo nội quy mà áp dụng. Để thực hiện hành vi ứng xử với học sinh theo nguyên tắc này giáo viên phải quan tâm, tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh gia đình các em.
         Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm phân tích trên bao giờ cũng thống nhất, tác động qua lại biện chứng nhau. Những nguyên tắc này nhằm hoàn thiện nhân cách giáo viên góp phần xây dựng, phát triển nhân cách HS.

5. Kỹ năng xử lý tình huống sư phạm

Gần đây có nhiều vấn đề trong nhà trường phổ thông mà dư luận hết sức phẫn nộ như GV bắt HS xúc miệng bằng nước giặt giẻ lau bảng, GV lên lớp 4 tháng mà chỉ ghi bảng cho HS chép rồi đi chứ không giảng, GV bắt HS quỳ rất lâu khi mắc lỗi… Những GV đó là những người đang có vấn đề về nghệ thuật xử lý tình huống sư phạm. Muốn trở thành một nhà sư phạm khéo léo, tinh tế trong ứng xử, thành công trong việc giáo dục học sinh, GV cần phải có hiểu biết và tôn trọng các nguyên tắc ứng xử sư phạm sau:

Thứ nhất, tìm hiểu một cách toàn diện, sâu sắc về từng học sinh. Hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm lý, tính cách, sở thích, thói quen… của từng em để có biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng.

Thứ hai, luôn giữ được sự bình tĩnh cần thiết trước mỗi tình huống sư phạm. Bình tĩnh để tìm hiểu một cách cặn kẽ, thấu đáo nguyên nhân của mỗi tình huống để có cách xử lý đúng đắn, hợp tình, hợp lý. “Hiểu người để dẫn đạo người”, đó là phương phâm cao quý của lao động sư phạm.

Thứ ba, luôn có ý thức tôn trọng học sinh, kể cả những khi học sinh có vi phạm, lỗi lầm với bản thân nhà giáo. Hãy biết tự kiềm chế để không bao giờ có những lời nói, cử chỉ xúc phạm học trò. Ở tuổi này, lòng tự tôn của các em rất cao, “chỉ một lời nói nhục mạ sẽ làm tan nát tâm hồn con trẻ” (Xukhômsinxki).

Thứ tư, luôn đặt mình vào địa vị của học sinh, vào hoàn cảnh của các em, cố gắng nhớ lại bản thân mình khi ở tuổi như các em để hiểu và thấu cảm. Hãy rút ngắn “khoảng cách thế hệ”, gần gũi và cảm thông chân thành, bao dung và độ lượng.

Thứ năm, luôn biết khích lệ, biểu dương các em kịp thời. Đối với học sinh, thầy cô giáo nên ca ngợi những ưu điểm của các em nhiều hơn là phê bình khuyết điểm. Học sinh nào cũng thích được thầy cô giáo biểu dương, vì thế, chúng ta không nên tiết kiệm lời khen của mình. Hãy khen ngợi những ưu điểm, sở trường của các em để các em cảm thấy giá trị của mình được nâng cao, có hứng thú học tập. Nhưng cũng cần chú ý, trong khi khen cũng không quên chỉ ra những thiếu sót của học sinh để các em khắc phục, không ngừng tiến bộ.

Thứ sáu, luôn thể hiện niềm tin vào sự hướng thiện của các em. Ngay cả khi các em mắc sai lầm, cũng phải tìm ra những ưu điểm, những mặt tích cực chứ không nên phê phán nặng nề. Đó chính là chỗ dựa, là nguồn khích lệ cho học sinh có động lực phát triển. Góp ý với học sinh về những thiếu sót, việc làm cụ thể, với một thái độ chân thành và yêu thương. Tuyệt đối không nêu những nhận xét chung chung có tính chất quy chụp và xúc phạm HS.

Thứ bảy, luôn thể hiện cho học sinh thấy tình cảm yêu thương của một người thầy với học trò. Theo quy luật phản hồi tâm lý, tình cảm của thầy trước sau cũng sẽ được đáp lại bằng tình cảm của trò. Dùng lòng nhân ái, đức vị tha giáo dục, cảm hóa học trò sẽ luôn đạt hiệu quả cao. Trong mỗi tình huống sư phạm, người GV cần phải bình tĩnh xem lại bản thân mình. “Nhân vô thập toàn”, nên hãy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Nếu nhận ra sự thiếu sót, sai lầm của mình, hãy dũng cảm thừa nhận. Chắc chắn làm như thế, học sinh chẳng những không coi thường thầy cô mà còn rất cảm phục.

Việc vận dụng các quy tắc cơ bản nói trên vào việc xử lý các tình huống sư phạm là nghệ thuật của mỗi nhà giáo.

Trên đây là một số kỹ năng sư phạm trong dạy học môn Giáo dục công dân mà bản thân tôi đã học hỏi và sử dụng trong quá trình làm việc. Mỗi GV để có những bài giảng hay những giờ học thực sự cuốn hút học trò cần không ngừng nỗ lực học hỏi các thế hệ đồng nghiệp về tất cả các kỹ năng. Hy vọng những chia sẻ của tôi trong bài viết này sẽ giúp các bạn SV chuyên ngành Giáo dục Chính trị có thêm những kinh nghiệm bổ ích để tự tin hơn khi đứng lớp và thành công trong sự nghiệp trồng người.

MỘT SỐ KINH NGHIỆM ÔN VÀ LÀM BÀI THI HIỆU QUẢ

 

ThS. Nguyễn Thị Hương

Với một lượng kiến thức lớn của nhiều môn học mà thời gian thi đang đến rất gần kề liệu các bạn sinh viên đã có phương pháp ôn thi hiệu quả, phương pháp làm bài thi đạt kết quả cao hay chưa? Tôi xin chia sẻ với các bạn một số kinh nghiệm ôn thi được tổng kết từ chính quá trình học tập và rèn luyện song song hai bằng đại học của tôi dưới mái trường đại học Sư phạm Hà Nội.

I. KINH NGHIỆM ÔN THI

1.     Lập kế hoạch cá nhân

Bạn hãy lập cho mình một thời khóa biểu phù hợp trước khi thi ít nhất là 1 tháng. Đừng để còn vài ngày nữa là đến ngày thi mới lên kế hoạch ôn tập bạn sẽ không thể nhồi nhét vào đầu khối lượng kiến thức lớn của nhiều môn học chỉ trong vài ngày.

Viết cụ thể những môn thi và ngày thi để lên kế hoạch ôn luyện hàng ngày. Đồng thời biết cách cân bằng thời gian và tâm trí của mình đối với từng môn học, nhất là khi bạn muốn dành những khung thời gian học khác nhau cho mỗi môn học (môn nào thi trước nên tập trung ôn trước).

Với cá nhân tôi khi học ĐH, mỗi buổi ôn tôi luôn dành thời gian đầu cho những môn mà tôi thấy khó hiểu, khó nhớ nhất (vì đây là lúc bộ não tập trung cao độ nhất) khoảng thời gian cuối buổi khi cảm thấy bắt đầu mệt tôi chuyển sang học các môn dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc nhất (VD: Tiếng Anh, Âm nhạc,…)

2. Sắp xếp lại không gian học tập

Bạn nên sắp xếp không gian học tập sạch sẽ, gọn gàng, có thể cắm một vài bông hoa nơi bàn học. Khi ôn tập căng thẳng những bông hoa đó có thể sẽ giúp bạn cảm thấy thư giãn hơn. Các bạn cũng nên sắp xếp giáo trình theo từng môn học để có thể tìm thấy sách ngay khi bạn cần đến. Với tôi sách là bạn – người bạn chân thành nhất - nên tôi luôn nâng niu những cuốn sách của mình đặc biệt là vở ghi tôi trình bày rất cẩn thận, sạch đẹp (môn học càng khó hiểu thì càng phải ghi chép cẩn thận) khi ôn thi cầm đến sách vở ghi rõ ràng dễ hiểu sẽ dễ hệ thống lại kiến thức, dễ nhớ hơn.

3. Tự học tự làm đề cương ôn thi bám sát kiến thức trọng tâm, lập sơ đồ tư duy, ôn đến đâu chắc đến đó là phương pháp ôn thi hiệu quả nhất

Tự học, tự làm đề cương ôn tập từng môn là cách rèn luyện tư duy độc lập, nâng cao hiệu quả học tập, làm giàu tri thức cho bản thân. Tránh việc photocopy đề cương của các bạn khác có những từ các bạn viết tắt mình không hiểu đúng dẫn đến khi làm bài thi bị sai hay bạn làm sai mình cũng làm sai theo bạn.

Không chỉ tự mình làm đề cương chi tiết mà các bạn còn phải lập sơ đồ tư duy khái quát nội dung từng bài, từng câu trong đề cương ôn tập. Bạn hãy viết tất cả mọi nội dung bạn cần biết về vấn đề mình đang ôn tập bằng những ý chính ngắn gọn, súc tích nhất. Nắm chắc kiến thức cơ bản là một bí quyết ôn thi hiệu quả để triển khai đề cương ôn tập kiến thức đúng với trọng tâm, không lan man, ôm đồm, quá tải. Sách giáo trình chính là tài liệu phục vụ ôn thi tốt nhất.

Với tôi mỗi môn thi tôi đều làm 3 lần đề cương: 1 đề cương viết chi tiết trên giấy A4, 1 đề cương vẽ theo sơ đồ tư tuy, 1 đề cương thu nhỏ (không phải để làm phao thi mà để tôi có thể bỏ túi mang đi bất cứ nơi đâu trong suốt khoảng hơn 1 tháng ôn tập rảnh lúc nào tranh thủ giở ra xem ngay được).

Trong quá trình ôn tập cần chú ý hệ thống lại phần kiến thức đã học sao cho “ôn đến đâu chắc đến đó”. Phần nào vừa sức với mình thì ôn thật kĩ. Có ôn như vậy, khi đi thi sẽ giúp các bạn cảm thấy tự tin và khi thi xong cũng không lo lắng, phân vân.

4. Luyện các đề thi của khóa trước

Đề thi chứa các nội dung kiến thức đầy đủ và tổng quát nhất, vì vậy luyện đề thi của các khóa trước là rất quan trọng. Bạn không những nắm được các kiến thức đã học, bổ sung những kiến thức còn thiếu mà còn nắm bắt được các thủ thuật làm bài thi sao cho nhanh và chính xác nhất. Đây cũng là cách rèn luyện sự tự tin trước mỗi kỳ thi.

5. Học ôn theo nhóm

Bên cạnh việc tự ôn một mình cuối mỗi buổi bạn hãy dành một chút thời gian học nhóm với nhóm bạn cùng lớp, các bạn sẽ có điều kiện để cùng ôn bài, tự hỏi – tự trả lời cho nhau một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Ngày học đại học tôi và các bạn cùng phòng kí túc thường cùng ôn với nhau đặc biệt với những môn thi vấn đáp chúng tôi thường đóng vai thầy cô đưa ra những câu hỏi xung quanh nội dung môn học để cùng tư duy và tìm ra cách trả lời tốt nhất. Với tôi các bài thi vấn đáp là các bài tôi thường đạt điểm cao nhất nhờ cách ôn này (ngoài ra còn cần thêm sự tự tin, thoải mái, logic khi trả lời câu hỏi).

6. Cân đối thời gian học và nghỉ ngơi một cách hợp lý

Theo thống kê mỗi năm có hàng nghìn thanh niên Việt Nam tự tử vì áp lực học hành (bài báoMỗi năm hàng nghìn thanh niên Việt Nam tự tử vì áp lực học hành 06:30 19/04/2018 Zing.vn). Chắc hẳn các bạn cũng không muốn mình rơi vào hoàn cảnh đó hay đơn giản là bị stress vì áp lực thi cử. Vậy các bạn cần làm gì để không bị căng thẳng?

Bạn đừng bắt mình ngồi ôm quyển sách 24/24 giờ một ngày. Nghỉ ngơi cũng là một cách cho não bạn tái tạo khả năng làm việc và xua tan căng thẳng, mệt mỏi. Khoảng thời gian bộ não ta làm việc tốt nhất đó là 5h-6h, 7h30-10h30, 14h-16h30, 20h-22h. Lúc đó là lúc bộ não ta “hưng phấn” và học vào nhất. Hãy tập trung tinh thần, công lực bộ não mình vào những khung giờ đó. Học tầm 45-50 phút thì nên nghỉ ngơi, giải lao khoảng 5 phút sẽ tốt hơn (tốt nhất là bước ra ngoài hít thở khí trời ngắm cảnh một chút giúp cơ thể tổng hợp vitamin D là vi chất có ích cho não bộ của bạn làm việc hoàn hảo). Chú ý không nên học ngay sau khi vừa ăn xong.

Trước ngày thi, không ít người “chong đèn” học suốt đêm, cố gắng nhồi nhét kiến thức vào đầu. Điều này không hề giúp ta nâng cao điểm số, ngược lại làm tinh thần ta càng mệt mỏi, căng thẳng, không có khả năng tập trung để làm bài. Tại thời điểm này, thư giãn nhẹ nhàng sau đó đi ngủ sớm là điều tốt nhất bạn nên làm. Tôi từng học cùng lúc 2 bằng đại học nhưng chưa bao giờ tôi ôn thi quá 23h.

Một bí quyết nhỏ từ thời còn đang học cấp THCS đến nay là trước lúc đi ngủ, tôi thường dành một chút thời gian nhẩm lại kiến thức mà mình vừa học trong đầu để xem thử mình đã học được bao nhiêu phần trăm. Cố gắng ghi nhớ những chi tiết chính, vạch ra các ý lớn trong từng bài. Phần kiến thức nào nhớ chưa rõ thì sẽ ôn ngay trong buổi tiếp theo.

Thay đổi không gian học tập cũng là một cách khiến tôi cảm thấy vừa học vừa được thư giãn. Thời gian ôn chính của tôi là trên thư viện nhưng đôi khi tôi chọn cho mình cách tìm một không gian yên tĩnh dưới một gốc cây to nào đó và mang theo một tờ giấy báo để ngồi ôn vừa học vừa hòa mình vào thiên nhiên khiến tôi cảm thấy việc khắc ghi kiến thức trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

Sau mỗi buổi thi tôi thường tự thưởng cho mình một vài tiếng đi chơi đâu đó (VD: thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám, đạp xe ra Hồ Gươm ăn kem,…) hoặc đi thăm các bạn đồng hương Sơn La giúp tôi cảm thấy cân bằng hơn sau những giờ học ôn căng thẳng và tôi như được tiếp thêm năng lượng dành cho những môn thi tiếp theo.

7. Ăn uống đầy đủ

Ăn đủ chất sẽ giúp bạn duy trì vóc dáng cân đối cũng như cung cấp dưỡng chất quan trọng cho não bộ hoạt động. Kể cả trong khi bạn ngồi học, cơ thể bạn vẫn cần được cung cấp năng lượng, nên không có lý do gì mà quên bồi dưỡng cho mình những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng như: thịt, cá, trứng, sữa chua và hoa quả. Với tôi một chút bánh ngọt giúp tôi minh mẫn hơn nên khi ôn thi tôi hay có bánh gấu bên mình. Thi thoảng căng thẳng tôi lại ăn một chiếc bánh nhỏ xinh khiến tôi cảm thấy mọi thứ trở nên ngọt ngào hơn, thư giãn hơn.

Bên cạnh việc ăn đầy đủ cho não bộ làm việc tốt nhất thì bạn cũng đừng quên uống nước thường xuyên, đặc biệt là khi kỳ thi của bạn rơi vào những ngày hè nắng nóng oi ả.

8. Suy nghĩ tích cực

Không nên quá lo lắng hay có những cảm xúc tiêu cực trước và trong quá trình ôn tập. Thay vì cứ rối tung rối mù thì bạn hãy bình tâm, tự sắp xếp lại thời gian, sách vở và lên kế hoạch ôn thi cho mình ngay lập tức. Những lo lắng, bối rối thái quá không những có thể tác động xấu đến việc học mà còn có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý làm bài của bạn.

II. KINH NGHIỆM GIÚP NGÀY THI ĐẠT KẾT QUẢ TỐT NHẤT

1. Đến nơi thi sớm    

Bạn nên đến nơi thi sớm, tìm phòng thi, vị trí ngồi và làm quen với môi trường xung quanh. Điều này sẽ giúp bạn ổn định tâm lý, tránh được trạng thái căng thẳng, hồi hộp.

2. Chuẩn bị sẵn những thứ cần thiết

Hãy chuẩn bị đầy đủ những thứ bạn cần dùng trong bài thi và chắc chắn đó là những thứ bạn được phép mang theo vào phòng thi. Bút viết (bạn nên mang ít nhất hai cây đề phòng hết mực), bút chì, thước kẻ, giấy nháp thi, thẻ sinh viên,… Hãy chuẩn bị sẵn mọi thứ vào tối hôm trước và để sẵn trong túi.

3. Đừng rời phòng thi khi chưa hết thời gian

Bạn hãy ngồi yên tại vị trí giám thị đã sắp xếp trong suốt buổi thi. Thậm chí, nếu bạn đã làm xong bài, bạn có thể ngồi yên cho đến cuối buổi thi. Nếu bạn nộp bài sớm rất có thể bạn sẽ nghĩ ra một ý hay, một vài điểm chưa chắc chắn,… sau khi đã rời phòng thi. Thời gian thi là rất ít so với quá trình học vì vậy bạn đừng lãng phí nó. Hãy đảm bảo rằng bạn chỉ rời phòng thi khi đã hết thời gian.

4. Tập trung làm bài

Bạn hãy tập trung để làm bài, đừng bận tâm tới những người xung quanh và những việc họ làm. Bạn hãy đọc kĩ những hướng dẫn, phân chia thời gian làm bài một cách khôn ngoan và hãy làm trước những câu hỏi mà bạn tự tin nhất. Bạn hãy cố gắng trả lời hết các câu hỏi và đừng quá tập trung vào bất cứ câu hỏi nào. Hãy cân nhắc giữa điểm số của câu hỏi và thời gian làm bài (câu hỏi có số điểm càng cao càng cần dành nhiều thời gian trình bày, phân tích kĩ).

5. Tuyệt đối không gian lận trong thi cử

Giở tài liệu, nhòm ngó bài, hỏi bài những thí sinh khác,… điều đó sẽ làm bạn mất rất nhiều thời gian và nguy cơ bị lập biên bản ảnh hưởng đến kết quả bài thi (bị trừ 25%, 50% thậm chí 100% kết quả bài thi tùy theo mức độ vi phạm), điểm rèn luyện, cơ hội xét kết nạp vào Đảng Cộng sản việt Nam...

Thay vì phải canh chừng giám thị và phấp phỏng chờ sự cầu cứu bạn hãy tập trung vào làm bài. Ít nhất bài thi đó cũng đánh giá năng lực thật sự của bạn. Đó là động lực thúc đẩy bạn chuẩn bị tốt hơn cho kì thi tiếp theo. Hơn nữa các bạn là những sinh viên sư phạm hãy nghiêm khắc với bản thân để rèn cho mình tư cách dạy học trò sau này.

Trên đây là một vài bí quyết cơ bản rút ra từ quá trình học tập của tôi hy vọng các bạn có thể áp dụng trong quá trình ôn và trong những ngày thi để đạt kết quả tốt nhất. Chúc các bạn thành công với kì thi đang đến rất gần và cả những kì thi tiếp theo.