SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THI TRẮC NGHIỆM TRONG KIỂM TRA KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGÀNH.

                                            Ths. Nguyễn Thị Thu Châu

   Khoa Lý luận Chính trị

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra một trong những hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo: “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất”[1].

Có thể thấy rằng, phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập là một trong những vấn đề quan trọng ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy và học tập; kiểm tra và đánh giá là một hoạt động gắn bó hữu cơ, không thể tách rời với quá trình giảng dạy và học tập. Thông qua kiểm tra, đánh giá người thầy có thể thu thập được những thông tin cần thiết để điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Có thể nói kiểm tra, đánh giá là thước đo và là động lực để thúc đẩy quá trình đổi mới công tác giảng dạy và học tập, là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo.

Pháp luật là một trong những môn học quan trọng thuộc chương trình đại cương, việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Điều nàycó ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết và nhận  thức của sinh viên về pháp luật đáp ứng tốt chuẩn đầu ra của nhà trường và nhu cầu của xã hội.

1.Thực trạng của việc kiểm tra đánh giá

Như chúng ta đã biết môn Pháp luật đại cương là một môn đề cập đến các kiến thức chung nhất về Nhà nước và Pháp luật, nội dung môn nhiều nhưng thời lượng dạy thì ngắn. Ngoài những kiến thức cơ bản về Nhà nước thì sinh viên phải nắm hầu như toàn bộ các vấn đề cơ bản thuộc các luật khác nhau, nội dung, câu chữ của môn học khó hiểu, khó học. Mặc dù trong kiểm tra, đánh giá sinh viên trong quá trình học chúng ta cũng đã có các hình thức như thảo luận, làm bài tập nhóm...Tuy nhiên ở bài thi kết thúc học phần môn học thì kiểm tra còn thiên về học thuộc lòng, kiểm tra trí nhớ một cách máy móc, đơn điệu, vụn vặt, kiểm tra kiến thức thiên về tái hiện kiến thức, xem nhẹ kỹ năng, kết quả là sinh viên ít động não, phân tích suy luận vào một vấn đề mà không thấy được các vấn đề liên quan khác, nguyên nhân hoặc kết quả của nó. - Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên chưa có tác dụng mạnh mẽ kích thích, động viên sinh viên, ra đề khó thì sinh viên tâm lý chán nản, dễ quá thì sinh viên chủ quan …không đánh giái đúng trình độ sinh viên, Các hình thức kiểm tra chủ yếu là lý thuyết, tự luận là chính, các dạng đề kiểm tra, hình thức kiểm tra còn đơn điệu. Do vậy để đạt được các mục tiêu của môn học như

Giúp cho sinh viên có sự hiểu biết và nắm bắt một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về Nhà nước và Pháp luật và các ngành luật cụ thể.

Xây dựng ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của mỗi cá nhân, cũng như vận dụng vào cuộc sống, tuyên truyền chủ trương đường lối,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước là rất khó

Từ thực tế giảng dạy cho sinh viên không chuyên ngành ĐHGDCT vừa qua, đặc biệt là kỳ thi kết thúc học phần dành cho K57 vừa qua, nội dung đề thi đã được đổi mới kết hợp thi trắc nghiệm với tự luận thì kết quả cho thấy phần thi trắc nghiệm sinh viên làm tốt hơn. Vì vậy trong trong nội dung bài tham luận tôi  đề xuất áp dụng phương pháp thi trắc nghiệm kết hợp với các phương pháp khác trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn pháp luật đại cương cho sinh viên không chuyên ngành.

2. Mô tả Phương pháp thi trắc nghiệm

Phương pháp đánh giá bằng bài thi trắc nghiệm là phương pháp sử dụng bài trắc nghiệm làm công cụ để đánh giá kết quả học tập của học viên.

a. Phân loại:

- Căn cứ vào giáo dục, ta chia thành hai loại

+ TN năng lực: đo về năng lực của cá nhân ( TN trí tuệ, TN năng khiếu…)

+  TN kết quả học tập: đánh giá tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ của học viên.

- Căn cứ vào mục đích sử dụng kết quả TN:

+ TN đối chiếu: so sánh kết quả học tập giữa các học viên

+ TN theo tiêu chí: xác định khả năng hay kết quả học tập của học viên so với mục tiêu đề ra ban đầu.- Căn cứ vào nội dung môn học:

+ TN viết

+ TN phi ngôn ngữ

+ TN dùng lời

b. Các loại câu hỏi trắc nghiệm:

* Câu hỏi lựa chọn là loại câu hỏi, trong đó có phần gốc và phần trả lời. Phần gốc là một câu dẫn, tạo cơ sở cho sự lựa chọn. Phần trả lời là các phương án cho sẵn, trong đó có một phương án đúng nhất theo nội dung của phần dẫn, còn các phương án khác có tác dụng gây nhiễu. Trong một câu hỏi, tốt nhất là nên có từ 4 - 5 phương án lựa chọn.

VD: Văn bảo nào có hiệu lực cao nhất

a.      Luật

b.     Hiến pháp

c.      Nghị quyết

d.     Pháp lệnh

- Một số yêu cầu khi soạn thảo:

+ Phần gốc và phần lựa chọn phải trên cùng một nội dung đánh giá.
+ Các phương án trả lời phải tương tự nhau về độ khó, độ dài của câu.
+ Hạn chế những câu trả lời dạng : tất cả những ý đó, tất cả đều sai…(dễ làm học viên hiểu lầm xem đó là gợi ý )

+ Chỉ nên có một lựa chọn đúng

+ Vị trí các câu trả lời đúng cần được đảo ngược ngẫu nhiên. Câu hỏi đúng - sai

* Câu hỏi đúng - sai là loại câu khẳng định hoặc phủ định về một vấn đề nào đó. Học viên phải đọc, suy nghĩ và nhận định lời khẳng định hoặc phủ địnhđó là đúng hay sai.

Ví dụ: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân là như nhau? Đúng hay sai, tại sao, cho ví dụ.

          Hành vi có ích cho xã hội là hành vi hợp pháp: Đúng hay sai, tại sao? cho vd  

- Câu hỏi đúng sai phù hợp để hỏi những sự kiện, thuật ngữ và các kiến thức có quan hệ nhân quả. Dễ khuyến khích người trả lời phỏng đoán, không phù hợp khi dùng đo các kiến thức có tính suy luận cao, vì vậy không nên dùng nhiều trong các bài trắc nghiệm. Nhưng đối với môn Pháp luật đại cương có thể dùng để hỏi vì nó dễ dàng cho chúng ta biết các em có hiểu bài hay không hay trắc nghiệm may mắn.

- Một số yêu cầu khi soạn thảo

+ Ngôn ngữ rõ ràng, ngắn gọn, súc tích.

+ Tránh dùng câu phủ định như “không”, “không phải” hoặc các từ “đôi khi”, “luôn luôn”, …vì chúng dễ gây hiểu lầm

+ Bố trí các câu đúng và câu sai có dụng ý, nhằm tránh sự trùng lặp các câu

đúng hoặc sai theo qui luật.

Ngoài ra có thể sử dụng câu hỏi ghép đôi

Câu ghép đôi là câu hỏi có hai phần: phần dẫn và phần trả lời. Phần dẫn thường ở bên trái, là các câu, các mệnh đề nêu thuật ngữ, nội dung, định nghĩa… Phần trả lời là phần bên phải, cũng bao gồm các câu, mệnh đề…mà nếu được ghép đúng vào mệnh đề dẫn ở bên trái sẽ trở thành một phương án đúng, một ý hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của học viên là ghép mệnh đề có trong phần trả lời vào mệnh đề tương ứng ở phần dẫn. Yêu cầu của bài trắc nghiệm Có giá trị Có độ tin cậy về kết quả Độ khó của câu và bài trắc nghiệm Độ phân biệt

3.  Ưu điểm – hạn chế và bài học kinh nghiệm

Ưu điểm:

- Bài TN có thể đo được dải khá rộng các mức độ kết quả học tập của học viên theo mục tiêu: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá.

- Tính khách quan cao.

- Tính bao quát về nội dung lẫn đối tượng cao

- Tiết kiệm thời gian (làm nhanh, dễ chấm, chấm nhanh…)

          Hạn chế:

 -Khó đánh giá chiều sâu trong nhận thức của học viên, đặc biệt là sức sáng tạo của học viên.

- Việc soạn thảo bài trắc nghiệm khó, đòi hỏi người soạn phải có kĩ thuật, kinh nghiệm.

- Việc soạn thảo hình thành bài TN tốn nhiều thời gian, qua nhiều công đoạn phức tạp, tốn kinh phí.

Bài học kinh nghiệm

- Không áp dụng phương pháp đối với tất cả các nội dung của học phần mà chỉ lựa chọn những nội dung thích hợp, bên cạnh đó tùy theo nội dung mà giảng viên áp dụng nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau trong cùng một thi (như trắc nghiệm, tự luận và bài tập) để đánh giá, phân loại sinh viên được chính xác hơn

- Giảng viên cần đầu tư thời gian đễây dựng ngân hàng câu hỏi cho hoàn thiện và hợp lý

 

 

 

 



MỘT SỐ KỸ NĂNG KHI THIẾT KẾ GIÁO ÁN

 

ThS. Nguyễn Thị Hương

Khoa Lý luận Chính trị

Giáo án là kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học. Nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã chứng minh thực tế là 60% chất lượng giờ dạy tốt là tùy thuộc vào khâu chuẩn bị soạn giáo án còn lại 40% là tùy thuộc vào năng lực sư phạm và kinh nghiệm của người thầy. Vì vậy là giáo viên muốn giảng dạy tốt và chất lượng thì phải nghiêm túc trong việc biên soạn giáo án. Theo tôi, đây là một kỹ năng quan trọng của giáo viên, là kỹ thuật trí tuệ đòi hỏi giáo viên phải có tư duy khoa học, khả năng ước lượng để lựa chọn kiến thức chuẩn xác, đủ về khối lượng để giáo án không bị cháy. Để HS có thể nắm được kiến thức, GV cần lựa chọn PPDH phù hợp với nội dung và đối tượng, phát huy được tính chủ động sáng tạo, của người học. Tuy nhiên, trong quá trình hướng dẫn sinh viên ngành sư phạm trường ĐH Tây Bắc thực hiện nhiệm vụ rèn luyện nghiệp vụ sư phạm tại trường phổ thông tôi thấy các em còn nhiều lúng túng trong khâu thiết kế bài giảng hoặc các em chưa ý thức cao vai trò của việc soạn giáo án trước khi lên lớp dẫn đến bài soạn còn cẩu thả, sơ sài... Vì vậy thông qua bài viết này tôi muốn trao đổi với các bạn sinh viên sư phạm vai trò của giáo án và một số kỹ năng khi thiết kế bài giảng nhằm nâng cao chất lượng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên sư phạm trường ĐH Tây Bắc.
        Khi soạn giáo án, GV cần có những kỹ năng nhất định như: kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng lựa chọn nội dung bài học, kỹ năng lựa chọn PPDH…
* Khi xác định mục tiêu, GV cần khẳng định được những kỹ năng người học cần đạt được sau bài học. Những kỹ năng đó cần phải phù hợp với trình độ của đối tượng học và phải được biểu đạt bằng những từ chỉ hành động cụ thể, ví dụ: trình bày, phân tích, giải thích, mô tả,…
 * Dẫn nhập để tạo tâm thế tích cực cho người học là một phần việc quan trọng. GV có thể giới thiệu một hình ảnh, kể câu chuyện, nêu một vấn đề cần giải quyết… Không nên lúc nào cũng rập khuôn bằng một câu chuyển giảng, nếu người học không cảm thấy hứng thú, giờ học sẽ không hiệu quả. Khi thể hiện phần dẫn nhập trong giáo án, GV chỉ cần nêu tên hoạt động, không cần thiết phải thể hiện chi tiết câu chuyện, vấn đề mình dự định sẽ nói. (Tuy nhiên đối với giáo sinh kiến thực tập các em nên thể hiện chi tiết câu chuyện, vấn đề mình cần nói để chủ động hơn, logic hơn, không bị lúng túng trên bục giảng)
* Lựa chọn nội dung bài học, GV cần tránh nhầm lẫn với nội dung chương trình. Chúng ta chỉ nên đưa vào giáo án những nội dung cần thiết, phù hợp đối tượng học, không nhất thiết phải lo lắng khi loại bỏ một số nội dung chương trình ra khỏi giáo án. Chỉ cung cấp những gì người học cần chứ không phải những gì chúng ta có. (Ngay cả trong phân phối chương trình cũng rất linh hoạt, cho phép GV lựa chọn nội dung giảng dạy phù hợp với đặc điểm vùng miền)
* Thiết kế hoạt động dạy học là một công việc cần sự đầu tư kỹ lưỡng của GV. Đây là phần trọng tâm, thể hiện toàn bộ kịch bản của giờ dạy. Những phương pháp nào cần phải vận dụng, những tình huống học tập nào cần đưa vào bài… Để thiết kế hoạt động dạy – học cho 1 giờ học thường gồm 5 bước:
+ Bước 1: Phân tích nội dung học tập
+ Bước 2: Phân tích kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm hiện có của người học
+ Bước 3: Xây dựng tình huống học tập
+ Bước 4: Thiết kế hoạt động của người học
+ Bước 5: Thiết kế hoạt động tổ chức và hướng dẫn
Khi thể hiện trong giáo án, người GV cần nêu rõ cách thức triển khai hoạt động cụ thể của giáo viên và học sinh, đồng thời nêu rõ mục tiêu của các hoạt động đó, tránh việc chỉ nêu tên phương pháp (Giáo án mới được áp dụng yêu cầu ghi rõ hoạt động dạy học chứ không phải là nêu tên PP như mẫu cũ trước kia).

Trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy học, GV cần sử dụng nhiều PP khác nhau để tránh gây nhàm chán cho người học, đồng thời phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của từng PPDH. Và dù sử dụng PPDH nào thì cũng không nên kéo dài quá 20 phút với mỗi PP.
* Lựa chọn phương tiện dạy học, GV cần xem xét đến các yếu tố cơ bản sau:
+ Mục đích sư phạm cụ thể
+ Đặc điểm môn học
+ Mục tiêu học tập chung
+ Đặc điểm đối tượng
+ Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc dạy học và điều kiện cơ sở vật chất thực tế của nhà trường.
Thiết kế giáo án là một công việc thường xuyên của GV trước khi lên lớp. Một khi giáo án được chuẩn bị kỹ lưỡng, công phu thì sẽ giúp cho GV có được sự tự tin, từ đó quyết định rất lớn đến sự thành công của GV trong giờ giảng.

         Trên đây là một số kỹ năng khi thiết kế giáo án mà bản thân tôi đã học hỏi và sử dụng trong quá trình làm việc. Mỗi GV để có những bài giảng hay, những giờ học thực sự cuốn hút học trò cần không ngừng nỗ lực học hỏi các thế hệ đồng nghiệp về tất cả các kỹ năng như nghiên cứu tài liệu, thuyết trình, sử dụng phương tiện dạy học, xử lý tình huống sư phạm, thiết kế giáo án và trình bày bảng…. Hy vọng những chia sẻ của tôi trong bài viết này sẽ giúp các bạn sinh viên sư phạm có thêm những kinh nghiệm bổ ích để tự tin hơn khi đứng lớp và thành công trong sự nghiệp trồng người.

 

 

 

CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

 

                                                                       Ths. Cao Thị Hạnh

                                                             Bộ môn ĐLCM của ĐCSV và TTHCM

Đại hội VI của Đảng (1986) thừa nhận những hạn chế, bất cập trong cơ chế vận hành của hệ thống chính trị; Đại hội VI xác định: trong đổi mới hệ thống chính trị thì vấn đề hệ trọng và khó khăn nhất là đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Đảng lãnh đạo theo cơ chế nào để thể hiện đúng chức năng lãnh đạo của mình, khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay những công việc của Nhà nước. Tuy nhiên, khắc phục một thói quen, thậm chí một tập quán lãnh đạo Nhà nước theo lối chỉ huy toàn diện và trực tiếp trong thời kỳ lịch sử dài là điều không dễ dàng. Thay thế phương thức lãnh đạo cũ là cần thiết, nhưng lãnh đạo theo phương thức mới thế nào là vấn đề không đơn giản. Nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng, xuất phát từ thực tiễn đổi mới kinh tế, tư duy mới của Đảng ta về cơ chế vận hành của hệ thống chính trị được hình thành.

Hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”[1]; trong đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có chức năng thể chế hoá và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại diện, đồng thời làm chủ trực tiếp thông qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”[2]; làm chủ thông qua hình thức tự quản.

Như vậy, so với thời kỳ trước đổi mới nhận thức mới về cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta có sự thay đổi căn bản và sâu sắc.

Một là, phân định ngày càng rõ hơn chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước. Đại hội VII của Đảng (1991) đã xác định vấn đề mấu chốt hiện nay là phân định rõ chức năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (1991) và các Đại hội VIII, IX, X, XI, Đảng ta khẳng định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của Đảng viên… Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị.

          Đảng ta ngày càng nhận thức rõ, lãnh đạo có nghĩa là hướng dẫn, dẫn dắt người khác làm theo bằng nhiều phương thức - bằng uy tín, vận động, thuyết phục, làm gương… nhằm đạt đến những mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, phân biệt chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước, trong điều kiện một Đảng cầm quyền chỉ là tương đối. Lãnh đạo và quản lý có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong lãnh đạo cũng có yếu tố của quản lý (chỉ đạo tổ chức thực hiện), và trong quản lý của Nhà nước cũng có yếu tố lãnh đạo (đề ra chủ trương, chính sách mang tính pháp lý). Lãnh đạo và quản lý đều là sự tác động vào khách thể nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.

Hai là, vị trí và vai trò, chức năng của Nhà nước trong hệ thống chính trị ngày càng được xác định rõ ràng hơn. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nhận thức của Đảng về Nhà nước pháp quyền còn rất mới mẻ, các vấn đề lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyền là quá trình nghiên cứu ở phía trước, nhưng tinh thần pháp luật, vị trí và vai trò của pháp luật thì đã được ý thức. Thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Trung ương 2 khoá VII (1991) thay thế cho thuật ngữ “Nhà nước chuyên chính vô sản” đánh dấu bước đột phá trong quá trình đổi mới tư duy về hệ thống chính trị. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) và các Đại hội VIII, IX, X, XI, Đảng xác định tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật.

Lần đầu tiên trong suốt mấy thập kỷ lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước, đến Đại hội VIII (1996), Đảng ta mới chính thức xác định Nhà nước ta là trụ cột của hệ thống chính trị.Vớiquan điểm mới này, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chủ yếu nhất, khó khăn phức tạp và lâu dài nhất trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới và hoàn thiện Nhà nước. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là nhiệm vụ trung tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị.

Nhà nước ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò là cơ quan quyền lực công của xã hội. Tính độc lập trong vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn. Đặc biệt là đối với chính quyền địa phương và chính quyền cơ sở. Nhà nước ngày càng tập trung hơn vào việc xây dựng môi trường chính trị - pháp lý ổn định và thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp thông qua các hoạt động xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật và chính sách; ngược lại nhân dân ngay càng có điều kiện tham gia thực chất và có hiệu quả vào công việc Nhà nước, tham gia quản lý Nhà nước.

Ba là, nhận thức mới vai trò các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam

Khi chưa giành được chính quyền, Mặt trận là liên minh chính trị của công nông với các lực lượng dân tộc tiến bộ, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, vận động, đoàn kết nhân dân đấu tranh chống đế quốc và phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Khi giành được chính quyền, Mặt trận cùng với Đảng và Nhà nước là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

          Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò làm chiếc cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân với Đảng và Nhà nước; thay mặt các tầng lớp nhân dân kiến nghị với Đảng và Nhà nước về những vấn đề cần thiết bổ sung vào đường lối, chính sách. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn thực hiện giám sát, tư vấn, phản biện xã hội đối với các cơ quan và cán bộ của Nhà nước và hệ thống chính trị, tham gia xây dựng, giám sát, góp ý kiến vào các dự án luật thuộc các lĩnh vực kinh tế, dân sự, hình sự và tổ chức bộ máy Nhà nước. Việc thực hiện chức năng này nhằm tạo ra cơ chế giám sát quyền lực trong xã hội, đảm bảo thực hiện yêu cầu dân chủ hóa.

          Điểm đổi mới quan trọng, nổi bật trong mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội là: Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc có vị trí ngang nhau trong hệ thống chính trị và có nguyên tắc cùng phối hợp hành động.

Như vậy, sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, mối quan hệ giữa các thành tố của hệ thống chính trị nước ta được xác định rõ hơn, giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản này sẽ góp phần làm cho hệ thống chính trị nước ta vận hành có hiệu lực, hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[3].

Tài liệu tham khảo:

1 - Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.109.

2 - Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991 - 2011), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.127.

3 - Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 70.

 

 

 

Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên - Chuyên đề “Phòng chống tội phạm mua bán người” Hoạt động chào mừng 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và 04 năm kết nghĩa giữa hai chi đòan GVCB khoa LLCT và chi đòan pc45

 

                                                                    Th.S Nguyễn Thanh Thủy

                                                          Bộ môn NNL của CN Mác - Lênin

Những năm gần đây, tội phạm buôn bán người ngày càng gia tăng với phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và đời sống của người dân. Thống kê cho thấy, đối tượng mà bọn buôn bán người hướng tới đa số là phụ nữ và trẻ em gái dưới 30 tuổi. Tội phạm buôn bán người xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần, danh dự, nhân phẩm  của đối tượng chúng tác động.

Nhằm nâng cao ý thức về phòng chống tội phạm buôn bán người của sinh viên  khoa Giáo dục chính trị, Sáng ngày 13/05/2017. Được sự nhất trí của chi bộ Khoa Lý luận chính trị  - trường Đại học Tây Bắc  và Chi bộ Phòng PC45 – Công An Tỉnh Sơn La, Chi đoàn giáo viên - cán bộ khoa Lý luận chính trị kết hợp cùng chi đoàn phòng Cảnh sát hình sự  PC 45 đã tổ chức buổi tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho sinh viên với chuyên đề Phòng chống tội phạm mua bán người . Buổi chuyên đề nằm trong chuỗi hoạt động thường niên kết nghĩa giữa chi đoàn giáo viên – cán bộ khoa Lý luận chính trị và chi đoàn Phòng PC 45 Công An Tỉnh.

 

Đến dự chuyên đề về phía PC 45 Công An Tỉnh có Trung tá, Phó trưởng phòng PC 45 Phạm Đức Hội. Về phía trường Đại học Tây Bắc có đồng chí Dương Văn Mạnh – Phó trưởng phòng công tác chính trị và quản lí người học, đồng chí Lại Trang Huyền – Chủ tịch công đoàn khoa Lý luận chính trị cùng toàn thể đoàn viên chi đoàn PC45, chi đoàn giáo viên – cán bộ khoa Lý luận chính trị và sinh viên các khóa.

 

Trung tá Phạm Đức Hội thực hiện báo cáo chuyên đề về tình hình tội phạm buôn bán người hiện nay. Báo cáo cho thấy, hiện nay tình trạng buôn bán người diễn biến hết sức phức tạp, đối tượng buôn bán người là tất cả mọi người, không chỉ riêng phụ nữ và trẻ em. Vì vậy, mỗi người dân cần nâng cao cảnh giác với loại hình tội phạm này.

Phần thảo luận diễn ra hết sức sôi nổi dưới sự điều khiển của Đại úy Phạm Văn Cường – đội phó đội trọng án. Với kinh nghiệm chuyên phá những vụ án có tính chất nghiêm trọng, tiếp xúc với nhiều đối tượng tội phạm của các vụ án buôn bán người, thấu hiểu tâm lí, thủ đoạn của các đối tượng, đại úy Phạm Văn Cường đã có những giải đáp hết sức thuyết phục và có ý nghĩa với các em sinh viên. Qua đó, các thầy cô và các em sinh viên đã bước đầu nắm được những thủ đoạn mà bọn buôn bán người thực hiện, một số cách thức tự vệ…

Buổi chuyên đề khép lại đã đem lại những hiểu biết hết sức ý nghĩa cho các em sinh viên khoa Lý luận chính trị, giúp các em tự bảo vệ mình và tuyên truyền cho những người xung quanh để phòng chống tội phạm buôn bán người. Những chuyên đề sẽ là hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật thiết thực và sinh động cho sinh viên.