CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

 

                                                                       Ths. Cao Thị Hạnh

                                                             Bộ môn ĐLCM của ĐCSV và TTHCM

Đại hội VI của Đảng (1986) thừa nhận những hạn chế, bất cập trong cơ chế vận hành của hệ thống chính trị; Đại hội VI xác định: trong đổi mới hệ thống chính trị thì vấn đề hệ trọng và khó khăn nhất là đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Đảng lãnh đạo theo cơ chế nào để thể hiện đúng chức năng lãnh đạo của mình, khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay những công việc của Nhà nước. Tuy nhiên, khắc phục một thói quen, thậm chí một tập quán lãnh đạo Nhà nước theo lối chỉ huy toàn diện và trực tiếp trong thời kỳ lịch sử dài là điều không dễ dàng. Thay thế phương thức lãnh đạo cũ là cần thiết, nhưng lãnh đạo theo phương thức mới thế nào là vấn đề không đơn giản. Nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng, xuất phát từ thực tiễn đổi mới kinh tế, tư duy mới của Đảng ta về cơ chế vận hành của hệ thống chính trị được hình thành.

Hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”[1]; trong đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có chức năng thể chế hoá và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại diện, đồng thời làm chủ trực tiếp thông qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”[2]; làm chủ thông qua hình thức tự quản.

Như vậy, so với thời kỳ trước đổi mới nhận thức mới về cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta có sự thay đổi căn bản và sâu sắc.

Một là, phân định ngày càng rõ hơn chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước. Đại hội VII của Đảng (1991) đã xác định vấn đề mấu chốt hiện nay là phân định rõ chức năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (1991) và các Đại hội VIII, IX, X, XI, Đảng ta khẳng định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của Đảng viên… Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị.

          Đảng ta ngày càng nhận thức rõ, lãnh đạo có nghĩa là hướng dẫn, dẫn dắt người khác làm theo bằng nhiều phương thức - bằng uy tín, vận động, thuyết phục, làm gương… nhằm đạt đến những mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, phân biệt chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước, trong điều kiện một Đảng cầm quyền chỉ là tương đối. Lãnh đạo và quản lý có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong lãnh đạo cũng có yếu tố của quản lý (chỉ đạo tổ chức thực hiện), và trong quản lý của Nhà nước cũng có yếu tố lãnh đạo (đề ra chủ trương, chính sách mang tính pháp lý). Lãnh đạo và quản lý đều là sự tác động vào khách thể nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.

Hai là, vị trí và vai trò, chức năng của Nhà nước trong hệ thống chính trị ngày càng được xác định rõ ràng hơn. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nhận thức của Đảng về Nhà nước pháp quyền còn rất mới mẻ, các vấn đề lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyền là quá trình nghiên cứu ở phía trước, nhưng tinh thần pháp luật, vị trí và vai trò của pháp luật thì đã được ý thức. Thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Trung ương 2 khoá VII (1991) thay thế cho thuật ngữ “Nhà nước chuyên chính vô sản” đánh dấu bước đột phá trong quá trình đổi mới tư duy về hệ thống chính trị. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) và các Đại hội VIII, IX, X, XI, Đảng xác định tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật.

Lần đầu tiên trong suốt mấy thập kỷ lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước, đến Đại hội VIII (1996), Đảng ta mới chính thức xác định Nhà nước ta là trụ cột của hệ thống chính trị.Vớiquan điểm mới này, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chủ yếu nhất, khó khăn phức tạp và lâu dài nhất trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới và hoàn thiện Nhà nước. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là nhiệm vụ trung tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị.

Nhà nước ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò là cơ quan quyền lực công của xã hội. Tính độc lập trong vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn. Đặc biệt là đối với chính quyền địa phương và chính quyền cơ sở. Nhà nước ngày càng tập trung hơn vào việc xây dựng môi trường chính trị - pháp lý ổn định và thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp thông qua các hoạt động xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật và chính sách; ngược lại nhân dân ngay càng có điều kiện tham gia thực chất và có hiệu quả vào công việc Nhà nước, tham gia quản lý Nhà nước.

Ba là, nhận thức mới vai trò các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam

Khi chưa giành được chính quyền, Mặt trận là liên minh chính trị của công nông với các lực lượng dân tộc tiến bộ, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, vận động, đoàn kết nhân dân đấu tranh chống đế quốc và phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Khi giành được chính quyền, Mặt trận cùng với Đảng và Nhà nước là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

          Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò làm chiếc cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân với Đảng và Nhà nước; thay mặt các tầng lớp nhân dân kiến nghị với Đảng và Nhà nước về những vấn đề cần thiết bổ sung vào đường lối, chính sách. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn thực hiện giám sát, tư vấn, phản biện xã hội đối với các cơ quan và cán bộ của Nhà nước và hệ thống chính trị, tham gia xây dựng, giám sát, góp ý kiến vào các dự án luật thuộc các lĩnh vực kinh tế, dân sự, hình sự và tổ chức bộ máy Nhà nước. Việc thực hiện chức năng này nhằm tạo ra cơ chế giám sát quyền lực trong xã hội, đảm bảo thực hiện yêu cầu dân chủ hóa.

          Điểm đổi mới quan trọng, nổi bật trong mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội là: Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc có vị trí ngang nhau trong hệ thống chính trị và có nguyên tắc cùng phối hợp hành động.

Như vậy, sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, mối quan hệ giữa các thành tố của hệ thống chính trị nước ta được xác định rõ hơn, giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản này sẽ góp phần làm cho hệ thống chính trị nước ta vận hành có hiệu lực, hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[3].

Tài liệu tham khảo:

1 - Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.109.

2 - Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991 - 2011), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.127.

3 - Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 70.

 

 

 

Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên - Chuyên đề “Phòng chống tội phạm mua bán người” Hoạt động chào mừng 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và 04 năm kết nghĩa giữa hai chi đòan GVCB khoa LLCT và chi đòan pc45

 

                                                                    Th.S Nguyễn Thanh Thủy

                                                          Bộ môn NNL của CN Mác - Lênin

Những năm gần đây, tội phạm buôn bán người ngày càng gia tăng với phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và đời sống của người dân. Thống kê cho thấy, đối tượng mà bọn buôn bán người hướng tới đa số là phụ nữ và trẻ em gái dưới 30 tuổi. Tội phạm buôn bán người xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần, danh dự, nhân phẩm  của đối tượng chúng tác động.

Nhằm nâng cao ý thức về phòng chống tội phạm buôn bán người của sinh viên  khoa Giáo dục chính trị, Sáng ngày 13/05/2017. Được sự nhất trí của chi bộ Khoa Lý luận chính trị  - trường Đại học Tây Bắc  và Chi bộ Phòng PC45 – Công An Tỉnh Sơn La, Chi đoàn giáo viên - cán bộ khoa Lý luận chính trị kết hợp cùng chi đoàn phòng Cảnh sát hình sự  PC 45 đã tổ chức buổi tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho sinh viên với chuyên đề Phòng chống tội phạm mua bán người . Buổi chuyên đề nằm trong chuỗi hoạt động thường niên kết nghĩa giữa chi đoàn giáo viên – cán bộ khoa Lý luận chính trị và chi đoàn Phòng PC 45 Công An Tỉnh.

 

Đến dự chuyên đề về phía PC 45 Công An Tỉnh có Trung tá, Phó trưởng phòng PC 45 Phạm Đức Hội. Về phía trường Đại học Tây Bắc có đồng chí Dương Văn Mạnh – Phó trưởng phòng công tác chính trị và quản lí người học, đồng chí Lại Trang Huyền – Chủ tịch công đoàn khoa Lý luận chính trị cùng toàn thể đoàn viên chi đoàn PC45, chi đoàn giáo viên – cán bộ khoa Lý luận chính trị và sinh viên các khóa.

 

Trung tá Phạm Đức Hội thực hiện báo cáo chuyên đề về tình hình tội phạm buôn bán người hiện nay. Báo cáo cho thấy, hiện nay tình trạng buôn bán người diễn biến hết sức phức tạp, đối tượng buôn bán người là tất cả mọi người, không chỉ riêng phụ nữ và trẻ em. Vì vậy, mỗi người dân cần nâng cao cảnh giác với loại hình tội phạm này.

Phần thảo luận diễn ra hết sức sôi nổi dưới sự điều khiển của Đại úy Phạm Văn Cường – đội phó đội trọng án. Với kinh nghiệm chuyên phá những vụ án có tính chất nghiêm trọng, tiếp xúc với nhiều đối tượng tội phạm của các vụ án buôn bán người, thấu hiểu tâm lí, thủ đoạn của các đối tượng, đại úy Phạm Văn Cường đã có những giải đáp hết sức thuyết phục và có ý nghĩa với các em sinh viên. Qua đó, các thầy cô và các em sinh viên đã bước đầu nắm được những thủ đoạn mà bọn buôn bán người thực hiện, một số cách thức tự vệ…

Buổi chuyên đề khép lại đã đem lại những hiểu biết hết sức ý nghĩa cho các em sinh viên khoa Lý luận chính trị, giúp các em tự bảo vệ mình và tuyên truyền cho những người xung quanh để phòng chống tội phạm buôn bán người. Những chuyên đề sẽ là hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật thiết thực và sinh động cho sinh viên.

 

 

Ý THỨC ĐẠO ĐỨC VÀ QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI KỲ BẮC THUỘC

 

                                                                          TS .Lê Thị Hương

                                                          Bộ môn NNL của CN Mác - Lênin

Trong thời kỳ Bắc thuộc, do cơ cấu kinh tế xã hội thay đổi, do sự đấu tranh và tác động qua lại của tư duy truyền thống và tư tưởng ngoại lai, một trình độ tư duy lý luận về ý thức đạo đức và quan niệm nhân sinh của người Việt đã hình thành. Sự hình thành đó là một quá trình liên tục có sự phủ định và có sự thay thế. Nội dung ý thức đạo đức và quan niệm nhân sinh của người Việt thời kỳ Bắc thuộc được thể hiện ở một số nội dung sau:

Về tôn kính và biết ơn cha mẹ tổ tiên. Trước hết là đối với cha mẹ. Người đương thời thấy có trách nhiệm phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ khi già yếu, cúng bái, thờ phụng cha mẹ khi qua đời. Sau nữa là đối với ông bà, tổ tiên, họ thấy phải noi gương cha mẹ, thờ phụng những người đã khuất và giữ gìn tập tục của họ. Các di chỉ khảo cổ học cho thấy, trong các ngôi mộ cổ thường có các công cụ sản xuất như đục, nạo, dũa, dao, rìu, dao găm, giáo mác, khay, ấm, đèn… Sở dĩ có hiện tượng này là do con người quan niệm linh hồn con người không chết, vẫn sinh hoạt như lúc sống, nếu đối đãi tử tế thì được phù hộ nhưng một phần là do lòng thương tiếc và biết ơn những người quá cố đã sinh ra mình. Sự thương tiếc và biết ơn đó được thể hiện bằng cách tạo ra cho linh hồn họ những điều kiện sống như ở trần gian.

Về tôn kính và nghe theo các thủ lĩnh. Thủ lĩnh bảo thì phải nghe, khi thủ lĩnh nổi lên thì phải theo, không nề hà khó khăn, gian khổ, nguy hiểm. Với họ, tộc trưởng, thủ lĩnh tiêu biểu cho lẽ phải, quyền lợi, niềm tin của cả cộng đồng, trong đó có cá nhân mỗi người. Ý thức đó không những không mất đi theo thời gian mà còn được củng cố và tăng cường bởi các việc làm chính nghĩa của các tộc trưởng và các thủ lĩnh. Hiện tượng Bà Trưng, Bà Triệu là một hiện tượng tiêu biểu.

Về coi trọng vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Những sự kiện lịch sử để lại nói lên vai trò quan trọng của người phụ nữ và lòng tôn kính của người dân đối với họ. Điều này cho thấy tàn dư của mẫu hệ xưa không vì sự thống trị của phong kiến Hán mà mất đi ngay và tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo không vì sự có mặt của người Hán mà nhanh chóng phát huy tác dụng.

Qua trên cho thấy, ý thức và quan niệm về đạo đức nhân sinh rất chất phác, đơn giản như cuộc sống của con người lúc bấy giờ nhưng ở đó chứa đựng bao ý nghĩa. Nó cho thấy sự gắn bó tự nguyện giữa cá nhân với cộng đồng, giữa các thế hệ với nhau…, đó là mối quan hệ tình nghĩa chân thật, đậm chất nhân bản mộc mạc, đáng kính, một trình độ văn minh và nếp sống có văn hóa, một kiểu làm người lành mạnh.

Ý thức đạo đức và quan niệm nhân sinh truyền thống của người Việt là hai hệ thống tư tưởng mới dần dần hình thành và ngày càng rõ nét. Đó là hai hệ thống nhân sinh quan của Nho giáo và Phật giáo.

Hệ thống nhân sinh quan Nho giáo nêu lên một loạt các nguyên tắc sống của con người, lấy đó làm chuẩn mực để đánh giá và yêu cầu của con người để bình phẩm xã hội và yêu cầu đối với xã hội như chú trọng việc của người đang sống, không quan tâm đến người chết, tôn trọng trật tự xã hội đã hình thành, có lòng thương xót đối với những người hoạn nạn. Tuy nhiên, lúc bấy giờ các nguyên tắc trên chủ yếu mới lưu hành trong một số người Việt có Hán học.

Hệ thống nhân sinh quan Phật giáo nêu các điều chủ yếu là xa lìa dục vọng, không làm hại người và vật, cần phải bố thí, thực hiện nhẫn nhục. Những điều trên được truyền bá rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.

Tuy nhiên, dù là Nho giáo hay Phật giáo, lúc bấy giờ cũng chưa thể lấn át được đạo lý truyền thống, nhưng chúng vẫn ngày một phát triển. Ưu thế pháp lý thuộc về Nho giáo bởi nó là công cụ thống trị của kẻ thống trị. Ưu thế gần gũi thuộc về Phật giáo vì nêu ra những điều thuộc về tâm lý, nguyện vọng của nhân dân. Hai quan niệm nhân sinh Nho giáo và Phật giáo ngày càng chi phối tâm hồn và lối sống của người Việt, nhưng có điều không thể chi phối lẽ sống của người Việt. Chúng chỉ là hai dòng tư tưởng tồn tại song song với dòng tư tưởng truyền thống.

Qua trên cho thấy, dưới sự đô hộ của phương Bắc, tư tưởng Việt nam có sự ảnh hưởng sâu sắc của các luồng tư tưởng ngoại lai. Tuy nhiên, người Việt Nam không kế thừa một cách nguyên xi các luồng tư tưởng đó mà kế thừa có chọn lọc để hình thành nét riêng của tư tưởng Việt Nam. Nó tạo nên dấu ấn riêng về một giai đoạn lịch sử  – giai đoạn dựng nước và đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ giữ nước.

 

 

 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO

 

                                                                        Th.s Nguyễn Thị Thùy Linh

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, đó là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

Những lời di huấn, các bài viết, những cử chỉ, hành động cũng như phong cách ứng xử của Người đối với các tôn giáo nói chung và đối với tín đồ, giáo sỹ, nhà tu hành của đạo Công giáo nói riêng là những bài học quý báu cho chúng ta hôm nay. Tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc và tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng là nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, đoàn kết các tôn giáo với nhau nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người. Đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo,…Đoàn kết là một chiến lược lâu dài chứ không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời. Đoàn kết là một tư tưởng lớn, bao trùm của Hồ Chí Minh, chính nhờ vậy mà Người đã quy tụ, tập hợp được toàn dân tham gia kháng chiến và kiến quốc thắng lợi. Trong đó, đoàn kết giữa những người cộng sản với những người có tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và giữa những người có tín ngưỡng với những người không có tín ngưỡng là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người.

Tư tưởng đoàn kết lương giáo ở Hồ Chí Minh được hình thành trên những cơ sở sau:

- Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc.

- Vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng cho chiến lược đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc của Hồ Chí Minh.

- Nhiệm vụ nặng nề của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh: “Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của tổ quốc”[1]. Người kêu gọi các tôn giáo hãy dẹp bỏ hiềm khích, đoàn kết toàn đan lo cho nền độc lập của nước nhà.

- Chống âm mưu chi rẽ lương giáo của kẻ thù: “Đồng bào các tôn giáo, các dân tộc háy đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mỹ cứu nước”[2].

Bất cứ ở đâu, vào thời điểm nào, nếu có cơ hội là Người đều nêu và giáo dục ý thức đoàn kết cho nhân dân. Một lần tiếp Việt kiều, trong đó có nhiều tín đồ công giáo, Người nêu lên khẩu hiệu: “Đoàn kết trên hết, Tổ quốc trên hết”. Nhờ nêu cao tinh thần đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc nên Hồ Chí Minh đã tập hợp xung quanh mình nhiều giáo sỹ, giáo dân hết lòng phấn đấu cho sự nghiệp cứu nước, kiến quốc, từ đó xóa dần những định kiến, mặc cảm do lịch sử để lại và âm mưu chia rẽ của kẻ thù.

Đoàn kết lương giáo, Người còn luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sỹ cả nước phải quan tâm chăm sóc cho cuộc sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo: “Làm thế nào để sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũng được yên vui”[3]

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo ta thấy: Muốn đoàn kết những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải đặt lợi ích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết.

Muốn đoàn kết lương giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân; khắc phục những mặc cảm, định kiến và chống âm mưu chia rẽ của bọn phản động; Tranh thủ, gần gũi, cảm hóa vận động các nhà tu hành, hàng ngũ chức sắc tôn giáo.

Hồ Chí Minh luôn tôn trọng và đánh giá cao vai trò, uy tín của hàng ngũ giáo sỹ, nhà tu hành, đặc biệt là những người đứng đầu các tôn giáo, Người xem họ là những người lãnh đạo có khả năng và uy tín để tập hợp, đoàn kết đồng bào các tôn giáo. Do đó, theo Người biết tranh thủ được hàng ngũ các chức sắc tôn giáo là biện pháp quan trọng để thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc. Muốn vận động quần chúng có tín ngưỡng tham gia vào sự nghiệp cách mạng điều quan trọng là phải biết tranh thủ, hợp tác chức sắc các tôn giáo.

Muốn đoàn kết lương giáo phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của đồng bào có đạo để đáp ứng kịp thời; với việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các phần tử phản động đẻ phê phán, đấu tranh.

Muốn đoàn kết phải chú ý kế thừa giá trị nhân bản của tôn giáo, trân trọng những người thành lập các tôn giáo lớn, quan tâm đến giáo dân: Độ lượng, vị tha với những người lầm lỗi; đấu tranh kiên quyết với bộn phản động, lợi dụng tôn giáo.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời chống âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo.

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quan điểm quan trọng trong tư tưởng tôn giáo Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó được thể hiện nhất quán cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người và đã trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với Đảng và Nhà nước ta.

Cơ sở xuất phát của tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là: Tôn trọng đức tin của mỗi người. Người đã chỉ ra rằng mặc dù thế giới quan của người cách mạng khác với thế giới quan tôn giáo, song không vì vậy mà đối đầu, nghi kỵ nhau; ngược lại, phải tôn trọng đức tin của mỗi người. Trong buổi lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam năm 1951; Hồ Chí Minh phát biểu: Vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao Động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người.

Tuy là người theo quan điểm duy vật nhưng Hồ Chí Minh không bao giờ bài xích, chế giễu với bất kỳ một tôn giáo nào. Ngược lại, Bác đã tiếp cận tôn giáo, coi nó như một di sản văn hoá của loài người, và tìm thấy ở đấy những mặt tích cực nhất định, những nhân tố hợp lý để kế thừa, tiếp thu những giá trị nhân bản, nhân văn của tôn giáo.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện:

- Quyền được tin hay không tin một tôn giáo nào.

- Mọi công dân có hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều được bình đẳng trên mọi lĩnh vực, kể cả trong bầu cử người vào cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước.

- Các di sản văn hoá tôn giáo phải được bảo vệ.

- Các nhà tu hành được tự do giảng đạo ở những cơ sở thờ tự. Khi truyền bá tôn giáo các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng chính quyền và pháp luật của nhà nước.

- Các tôn giáo được xuất bản và phát hành kinh sá, nhưng phải tuân theo luật xuất bản, được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo.

- Tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo, phá hoại sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy, Người nhấn mạnh: “Bảo vệ tự do tín ngưỡng nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản nước”.

- Để việc thực hiện tự do tín ngưỡng góp phần tích cực vào việc phát triển xã hội, nội dung tự do tín ngưỡng phải được luật hóa. Bởi vì, những quy định pháp luật có liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo vừa là điều kiện, vừa là công cụ thực hiện tự do tín ngưỡng.

- Bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn hoá mới, xây dựng thuần phong mỹ tục. Việc đấu tranh nhằm khắc phục tệ mê tín dị đoan phải tế nhị, tránh thô bạo.

3. Ý nghĩa và một số điểm cần lưu ý khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có ý nghĩa vô cùng to lớn, trước hết về mặt lý luận như sau:

Một là, Người đã phát triển nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng mức vai trò, vị trí của tôn giáo trong đời sống xã hội với các tính tích cực và tiêu cực của nó. Tiếp cận tôn giáo ở nhiều phương diện để thấy được tính đa dạng và phức tạp của hiện tượng xã hội này.

Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh - bộ phận độc đáo có quan hệ trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đời sống tinh thần rất nhạy cảm của con người.

Bốn là, Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho đường lối chính sách của Đảng ta đối với vấn đề tôn giáo, đặt cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước đối với những hoạt động tôn giáo.

Về ý nghĩa thực tiễn:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có tính định hướng cho việc giái quyết tôn giáo trong tiến trình cách mạng Việt Nam.

- Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo gắn liền với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là nhờ sức mạnh của đoàn kết trong đó có sự đóng góp của tư tưởng đoàn kết lương giáo Hồ Chí Minh.

Với những ý nghĩa hết sức sâu sắc trên cho thấy sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng của Người vào giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam cho hôm qua, hôm nay và cho cả mai sau.



[1] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 3, NXB CTQG, Hanoi 1993, trang 15.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, t. 11, NXB CTQG, Hanoi 1996, tr. 471.

[3] Sdd, t. 8, tr. 285.