Tin tức - Sự kiện

NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN (TẾT ÂM LỊCH) TẠI VIỆT NAM

 

 

Th.S Đào Văn Trưởng

 

Nhân dịp chào mừng Tết cổ truyền Đinh Dậu (2017) sắp tới của dân tộc, chúng ta cùng tìm hiểu nguồn gốc lịch sử và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán (hay Tết âm lịch) tại Việt Nam. 

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán Việt Nam.

Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.

Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.

Mặt khác, nước Việt Nam từ lâu đã hình thành một nền văn minh nông nghiệp, gắn liền với cây lúa. Do đó, gạo được coi là thứ quý giá nhất, là “hạt ngọc của trời”. Vì lẽ đó mà hằng năm, gạo được chọn làm nguyên liệu để làm bánh dùng trong việc thờ cúng tổ tiên hằng năm. Việc bánh chưng, bánh giầy ra đời từ thời Hùng Vương và trở thành món ăn truyền thống vào dịp Tết Nguyên Đán cũng là một minh chứng cho thấy văn hóa Tết của người Việt đã sớm được hình thành.

 

 

Tục nấu bánh chưng có từ lâu đời

 Ý nghĩa nhân văn Tết Nguyên Đán.

Về mặt chữ, tên gọi Tết Nguyên Đán được bắt nguồn từ Trung Quốc. Trong tiếng Hán, chữ “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu, “Đán” là buổi sáng sớm, tức là buổi sáng khởi đầu của năm mới. Còn “Tết” lại được đọc chệch đi theo âm chữ Hán “tiết”, vì theo lịch Trung Hoa xưa chia một năm thành 24 tiết, và Nguyên Đán là tiết đầu tiên trong năm. Về sau, do sự phát triển của ngôn ngữ, từ “tiết” được Việt hóa thành “Tết”, và được gọi là Tết Nguyên Đán như bây giờ.

Tuy nhiên, xét về ngữ nghĩa, Tết Nguyên Đán Việt Nam không phải là Tết Nguyên Đán của Trung Quốc. Viện ngôn ngữ học Hà Nội đã chứng minh rằng: Tết Nguyên Đán Việt Nam được tính theo chu kì quay của mặt trăng (tức âm lịch), trong khi “Nguyên Đán tiết” của Trung Quốc lại được tính theo mặt trời (tức dương lịch). Vì vậy, thực chất ngày Tết của người Việt sẽ gần giống với Xuân Tiết của người Trung Hoa hơn.

Tết Nguyên Đán còn được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như: Tết ta (tức là Tết của người Việt) hay Tết âm lịch (do Tết Việt được tính theo lịch âm). Một số nơi còn gọi là Tết Cả, do Tết Nguyên Đán là Tết đầu tiên trong năm, để phân biệt với các Tết khác như: Tết Khai Hàng, Tết Nguyên Tiêu, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu…

 

Hình ảnh xin chữ ngày tết, nét đẹp trong văn hóa Việt Nam

Ngày Tết đối với người dân Việt mang một ý nghĩa thiêng liêng, làm mới lại mọi việc. Đối với mỗi người dân Việt, Tết Nguyên Đán mang nhiều ý nghĩa niềm tin, biểu trưng cho ngày đoàn tụ, ngày làm mới, ngày tạ ơn và ngày của hi vọng.

Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh

Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết - do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông - có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính.

Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm "Ơn trời mưa nắng phải thì", người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời... người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.

 Tết Nguyên Đán là ngày đoàn viên của mọi gia đình    

Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,... được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. "Về quê ăn Tết", đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.       

 

Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri...        

Tết Nguyên Đán là ngày “làm mới”    

Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.       

Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.

Tết Nguyên Đán là ngày tạ ơn     

Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết... 

          Trong không khí cả nước đang hân hoan chào đón Tết Đinh Dậu (2017), xin được gửi đến toàn thể các Thầy, Cô giáo, các bạn sinh viên cùng gia đình lời Chúc mừng năm mới, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong công việc và cuộc sống. Năm mới thắng lợi mới!

 

 

 

TỪ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐẾN NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

 

Th.S Đào Thị Thúy Loan

 

 

Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội xuất hiện khá sớm trong nền văn minh nhân loại, gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, chế độ xã hội khác nhau với nội dung cơ bản: dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.

Ở Việt Nam, mầm mống tư tưởng dân chủ đã có từ lâu, như một nhu cầu tự nhiên mang bản tính của con người trong đấu tranh để tồn tại và cố kết cộng đồng. Song người Việt Nam chỉ biết đến và được hưởng quyền dân chủ thực sự từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân lãnh đạo thực hiện Cách mạng tháng Tám năm 1945 lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và tiến hành hiện thực hóa tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội.

1. Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đây là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng dân chủ Mác-Lênin, truyền thống dân chủ tốt đẹp của người Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về một nền dân chủ nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân ở Việt Nam. Đó là tư tưởng về giải phóng con người và xã hội trên cơ sở giải phóng giai cấp, dân tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp trên lập trường của giai cấp vô sản, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc trên quan điểm và phương pháp của cách mạng vô sản, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Quan niệm dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là nội dung trực tiếp, mục tiêu của đường lối cứu nước, lý luận và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh được phát triển nhất quán từ cách mạng giải phóng dân tộc tới cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ con đường đấu tranh đánh đổ đế quốc thực dân phong kiến xóa bỏ ách nô lệ, tiến tới giành quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho mọi người lao động, xác lập địa vị người chủ và làm chủ xã hội cho toàn dân, xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền, một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN.

Vì vậy, muốn có dân chủ chúng ta phải tiến hành đấu tranh cách mạng để cải tạo xã hội cũ, kiến thiết xã hội mới. Dân chủ trước hết là quyền dân tộc độc lập, dân tộc tự quyết, quyền tự do chính trị của nhân dân, quyền nhân dân tự quyết định vận mệnh và cuộc sống của mình. Nước độc lập thì dân mới được hưởng quyền tự do, dân chủ, mới có hạnh phúc. Phải đem sức ta mà giải phóng cho ta, xóa bỏ ách nô lệ, làm cách mạng dân chủ nhân dân tiến dần lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là con đường phát triển duy nhất của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đó là cái đảm bảo chắc chắn cho dân là chủ và dân làm chủ, bảo đảm cho mọi người, mọi dân tộc thực hiện chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhần sâu sắc trong toàn bộ di sản tư tưởng lý luận của Người, trong sự thống nhất hữu cơ giữa tư tưởng, phương pháp với phong cách, đạo đức, văn hóa, lối sống, giữa cuộc đời toàn vẹn và trọn vẹn của một con người có cái tâm trong sáng, đức cao cả, trí mẫn tuệ, hành mực thước, với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của một lãnh tụ thiên tài. Bác không chỉ thể hiện và thực hiện vấn đề dân chủ trên phương diện chính trị, đấu tranh chính trị và cách mạng chính trị, mà còn thực hành dân chủ rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, xây dựng con người mới, lối sống mới, đạo đức mới. Bác đặc biệt chú ý tới xây dựng thể chế dân chủ, xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền nhằm thực hiện dân quyền, bảo đảm dân sinh, nâng cao dân trí. Người chủ trương thực hành dân chủ trong Đảng để làm gương cho dân chủ trong xã hội, giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa dân chủ của cá nhân với dân chủ của xã hội, giữa công dân với nhà nước, thành viên với cộng đồng, giữa quyền hạn và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm, dân chủ và pháp luật, kỷ luật, kỷ cương, dân chủ và tập trung.

          Như vậy, muốn thực hành dân chủ rộng rãi chúng ta phải thực hiện cải cách xã hội và đổi mới, thực hiện đoàn kết toàn dân, xây dựng hệ thống chính trị, nâng cao ý thức, năng lực làm chủ của dân, chống quan liêu, loại trừ tham nhũng, chống thói xa dân, coi thường dân. Chống quan liêu, tham ô, ăn cắp, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư thực chất là chống chủ nghĩa cá nhân ở tất cả mọi người, mọi cấp, mọi ngành, trong Đảng, trong bộ máy nhà nước và xã hội để cho dân chủ thực sự là “của quý báu nhất” của nhân dân. Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn và dân chủ là động lực của tiến bộ và phát triển. Không có dân chủ thì cũng không có CNXH.

          Gần 80 năm thực hiện theo tư tưởng và phương pháp dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước ta đã xây dựng được nền dân chủ định hướng XHCN, trên cơ sở nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hệ thống chính trị vững vàng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò là chủ và làm chủ của nhân dân lao động ngày càng được bảo đảm và phát huy. Ý thức và năng lực làm chủ của người dân được nâng cao, mọi người đã và đang mang hết tài năng cũng như sức lực tham gia vào quá trình phát triển và hưởng thụ thành quả phát triển, tích cực thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy nhiên, xét trên từng lĩnh vực cụ thể thì vẫn còn một số nội dung dân chủ chưa được tôn trọng đúng mức, thậm chí bị vi phạm nghiêm trọng.

2. Thực trạng nền dân chủ ở nước ta hiện nay

Đánh giá đúng thực trạng nền dân chủ XHCN ở nước ta như thế nào là việc làm không dễ. Theo chúng tôi, để đánh giá đúng thực trạng trên cần chú ý một số vấn đề sau:

2.1. Phải nhìn nhận nó trong sự vận động liên tục, không cắt đoạn, không dừng lại ở việc giải thích hoặc so sánh giản đơn giữa nước ta với nước khác khi trình độ kinh tế - xã hội và lịch sử khác nhau. Nghĩa là, phải nhìn nó trong sự phát triển liên tục của đất nước, so sánh với chính nó trong từng thời kỳ khác nhau.

2.2. Khi nói đến dân chủ là nói đến quyền làm chủ của nhân dân lao động thông qua quyền lực nhà nước và quyền tự do của người dân được thiết lập qua chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, được thực hiện bằng các thiết chế, quy chế. Dân chủ được thể chế hóa thành chế độ dân chủ và chế độ dân chủ được thực hành trong đời sống xã hội thành nền nếp, lối sống, văn hóa,…thì đó là nền dân chủ. Do đó, nhận thức rõ tính chỉnh thể, hệ thống của nền dân chủ là một yêu cầu có ý nghĩa nguyên tắc, phương pháp luận trong xây dựng và đánh giá. Có như vậy mới khắc phục được cách nhìn giản đơn, có khi còn ảo tưởng, thỏa mãn khi xây dựng và đánh giá nền dân chủ XHCN.

2.3. Tiêu chí cơ bản để đánh giá nền dân chủ XHCN là quyền lực thuộc về nhân dân lao động được thực hiện trong đời sống hiện thực trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Song, “thực chất” hay “quyền lực” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói về “nền dân chủ thực sự” được thể hiện trong mối quan hệ giữa: quyền dân chủ với tính chất và trình độ của nền kinh tế - xã hội; quyền dân chủ và hệ thống thể chế; dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; dân chủ và chuyên chính; dân chủ với công bằng xã hội; truyền thống và hiện đại; yếu tố ngoại sinh và yếu tố nội sinh; quyền và khả năng, điều kiện thực hiện quyền dân chủ,…Đây là những quan hệ tương hỗ, quy định nhau, nếu không đánh giá cụ thể, toàn diện sẽ dễ thiên lệch, không đúng thực chất.

Theo lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đấu tranh, giành chính quyền cách mạng xã hội và từng bước xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN cũng là điểm bắt đầu hình thành nền dân chủ XHCN. Nhiệm vụ của cách mạng vô sản là, sau khi giành chính quyền phải biết sử dụng có hiệu quả quyền lực nhà nước vừa giành được để xây dựng thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội mới, để nhân dân, trước hết là nhân dân lao động từng bước trở thành người chủ xã hội, là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực.

Với Người chưa thấy dùng thuật ngữ “nền dân chủ XHCN”, nhưng thuật ngữ dân chủ XHCN được Bác sử dụng như một hiện thức tồn tại ở nước ta ngay từ năm 1968 và yêu cầu: “Cần phát huy đầy đủ dân chủ XHCN” [2, tr. 403] để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Riêng thuật ngữ nền dân chủ, Bác sử dụng không ít hơn 45 lần trong các bài nói, bài viết được xuất bản trong Hồ Chí Minh toàn tập (bộ 12 tập) và nhiều lần Người nhấn mạnh nền dân chủ thực sự với ý nghĩa là nền dân chủ XHCN.

Xuất phát từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tương ứng với nó là các quan hệ sản xuất mới đang hình thành ở nước ta, từ thu nhập quốc dân tính theo đầu người thì Việt Nam còn là một nước nghèo, kém phát triển. Nếu đánh giá theo chỉ số phát triển con người (HDI) và khả năng xóa đói, giảm nghèo thì nước ta không ở hạng yếu kém, mà còn ở hạng các nước khá. Nếu chỉ nói riêng về an toàn lương thực và xuất khẩu gạo mấy năm gần đây, Việt Nam thuộc hạng các nước mạnh. Do đó, có thể thấy, chế độ chính trị và nền dân chủ XHCN ở Việt Nam có nhiều mặt tốt, song còn không ít hạn chế. Bản chất và tính ưu việt trong việc thiết lập và thực thi quyền dân chủ của nhân dân lao động rõ ràng cao hơn dân chủ tư sản và dân chủ theo mô hình CNXH thời chiến, tuy nhiên, trình độ, ý thức dân chủ của người dân và một số cán bộ trong đội ngũ lãnh đạo quản lý cùng hệ thống thể chế, cơ chế dân chủ còn thấp, chưa tương xứng với quyền mà nhân dân được hưởng đã quy định trong pháp luật.

Nhìn một cách khái quát, chúng tôi cho rằng, nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay đang phát triển trên cơ sở hoàn thiện nền dân chủ nhân dân và bước đầu xây dựng nội dung, thiết chế dân chủ XHCN. Nền dân chủ XHCN sau 30 năm đổi mới vẫn mang tính chất quá độ, có mặt đang phát triển, có mặt còn hạn chế, đang từng bước hoàn thiện chứ chưa phải là nền dân chủ XHCN ở mức độ chín muồi, đầy đủ. Vì vậy, trong nhận thức, không thể phủ nhận tính chất và yếu tố XHCN trong nền dân chủ hiện nay, song cũng không nên coi đây là nền dân chủ XHCN đầy đủ, chỉ cần phát huy chứ không cần xây dựng và phát triển. Thời gian qua là bước tiến dài, đã mở ra một thời đại dân chủ mới thực sự ở Việt Nam, thời đại mà nhân dân lao động được và biết làm chủ cuộc sống của mình trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…; đặc biệt, mức sống, lối sống của người dân và toàn xã hội được cải thiện và có nhiều tiến bộ. Số hộ dân đói nghèo ngày càng giảm, số hộ dân khá, giàu ngày càng tăng; quan niệm sống mình vì cộng đồng và cộng đồng vì mình ngày một phổ biến trong sản xuất cũng như trong phòng chống thiên tai; từng bước hình thành tập quán sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân,…

Từ kinh nghiệm qua 30 năm đổi mới, Đảng ta thấy rõ hơn vấn đề xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN là một yêu cầu khách quan quan trọng không thể thiếu được trong mục tiêu chiến lược phát triển đất nước. Không thể coi dân chủ là hệ quả của công bằng và văn minh trong cuộc cách mạng XHCN mà phải đưa dân chủ vào mục tiêu cụ thể, trực tiếp của chiến lược cách mạng trong thời gian tới,  đó là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nhằm phát huy cao hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ từ cơ sở, đồng thời tăng cường pháp chế XHCN, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, khắc phục cả dân chủ hình thức cũng như dân chủ cực đoan.

Nhìn từ góc độ đổi mới, đây là một sự đổi mới tư duy có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta, sự vận dụng, thể hiện tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Bác, mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh xuyên suốt và nhất quán trong lý luận cũng như hành động cách mạng của Người. Tư duy mới của Đảng ta về dân chủ thể hiện ở chỗ: dân chủ gắn liền với đoàn kết toàn dân, với trí tuệ mới và với chính quá trình đổi mới. Đó cũng là đặc điểm của nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.

Vì vậy, xác định dân chủ là mục tiêu trực tiếp của chiến lược cách mạng trong thời gian tới, điều đó cho thấy, nền dân chủ XHCN với tất cả những gì đạt được chỉ mới là bước đầu, nhiệm vụ tiếp tục dân chủ hóa xã hội, phát huy động lực của sự phát triển đất nước còn nặng nề, đòi hỏi phải xóa bỏ triệt để các thể chế quan liêu, bao cấp, những lực cản, tiếp tục cải biến những tâm lý không phù hợp trong từng con người, tiếp tục xây dựng những nền tảng mới, thể chế mới của xã hội văn minh. Tuy vậy, cũng cần chú ý, khi phát triển kinh tế thị trường, những hiện tượng tiêu cực mới, hành vi vi phạm quyền dân chủ của nhân dân cũng nảy sinh. Nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta phải thừa nhận, ở nước ta lúc này hay lúc khác, chỗ này, chỗ khác vừa có dân chủ, vừa chưa có dân chủ; vừa rất tôn trọng dân chủ, vừa có vi phạm dân chủ, thậm chí có nơi vi phạm khá nghiêm trọng.

Do đó, với trách nhiệm của người lãnh đạo chính trị, người cầm quyền, Đảng ta đã khẳng định: “Sở dĩ có tình trạng đó là do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính”. Đó là: “Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Một số quan điểm, chủ trương chưa rõ, chưa có sự nhận thức thống nhất và chưa được thông suốt ở các cấp, các ngành. Cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp. Công tác tư tưởng, công tác lý luận, công tác tổ chức, cán bộ có nhiều yếu kém, bất cập”.

Về phía Nhà nước, Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã đánh giá: “Bộ máy Nhà nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh, tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng chưa được ngăn chặn, hiệu lực quản lý, điều hành chưa nghiêm, kỷ cương xã hội bị buông lỏng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước”. Những nguyên nhân trên cũng chính là trở lực lớn trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta. Thực ra những trở lực này đã được Bác dự báo và lường trước ngay từ những ngày đầu tiên miền Bắc xây dựng CNXH mà Người gọi một cách chính xác là ba kẻ địch. Trong đó, có một kẻ “ngoại xâm” và hai kẻ “nội xâm” chống lại cách mạng.

Với tinh thần trên, Báo cáo Chính trị tại Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân”. Như vậy, chúng ta cần nhận thấy, nền dân chủ XHCN đã có một quá trình phát triển không thuần nhất, nhưng lại đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng chính trị - đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là đặc điểm rất đáng lưu ý để mỗi thực thể cấu thành yếu tố vật chất và tinh thần của nền dân chủ thấy rõ trách nhiệm của mình.

Ngoài ra, chúng ta phải khẳng định sự thống nhất hữu cơ giữa quá trình xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đối với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản. Đồng thời, có ý thức rõ, trong điều kiện một Đảng duy nhất lãnh đạo, nếu Đảng không tự ý thức rõ nguy cơ áp đặt ý chí của mình cho Nhà nước, xã hội, tự đặt mình trên Nhà nước và pháp luật, các đảng viên có chức, có quyền sa vào các đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, cửa quyền,…thì Đảng sẽ trở thành vật cản trên con đường xây dựng một xã hội thực sự dân chủ. Vì vậy, trong khi khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới, Đại hội IX của Đảng đã chỉ ra: “Những thành tựu và yếu kém trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng”

Như vậy, có thể thấy, nền dân chủ XHCN ở nước ta đang trong giai đoạn đầu, đang tự khắc phục những yếu kém, sai sót, lệch lạc, đang được đổi mới để ngày càng hoàn thiện.

 

Tuy nhiên, dù có cải biến, đổi mới ở mức độ nào thì nền dân chủ XHCN đó cũng không thể xa rời nguyên tắc: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân  lao động mà nòng cốt là liên minh công, nông, trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo; nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện trong tất cả các tổ chức đảng và cơ quan Nhà nước; nguyên tắc tự do của cộng đồng được phát huy trên cơ sở quyền độc lập, tự chủ, tự do cá nhân được bảo đảm; nguyên tắc dân chủ pháp quyền và đoàn kết xã hội được phát triển; nguyên tắc hợp tác và đồng thuận xã hội giữa Nhà nước và doanh nghiệp, doanh nhân, giữa Nhà nước và xã hội công dân. Các nguyên tắc trên tạo thành một chỉnh thể nhằm phát huy và phát triển tiềm năng của con người và năng lực xã hội trong các dân tộc, giai tầng xã hội, thành phần kinh tế để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

CHÙA MỘT CỘT- DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM

 

                                                                   Th.S Lại Trang Huyền

 

1.     Chùa - Kiến trúc đặc trưng của đạo Phật

 

Chùa là một công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng. Chùa được xây dựng phổ biến ở các nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thường là nơi thờ Phật.Tại nhiều nơi chùa có nhiều điểm giống chùa tháp ở Ấn Độ,vốn là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư, thường có nhiều tháp bao quanh. Chùa là nơi tiêu biểu cho chân như, được nhân cách hoá bằng hình tượng một đức Phật được thờ ngay giữa chùa, nhiều tầng đại diện cho ba thế giới (tam giới), các cấp bậc tiêu biểu cho thập địa bồ tát. Có nhiều chùa được xây 8 mặt đại diện cho Pháp luân hặc Bát chính đạo.

Chùa còn là nơi tập trung của các sư tăng (hay ni, nếu là chùa của nữ giới tu hành), sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật.Tại nơi này, mọi người kể cả tín đồ hay người không thao đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo.

Ở Việt Nam, Phật giáo phát triển mạnh từ thế kỉ VI-X và rất thịnh đạt dưới thơì Lý. Vua Lý Công Uẩn là người sáng lập ra triều Lý, khi còn nhỏ sống trong chùa “nhân dân quá nửa làm sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa”. Phẩm cấp cho các tăng quan đứng đầu là chức quốc sư, các tăng quan cao cấp thường được vua và hoàng hậu dùng làn cố vấn. Tuy nhiên hình dáng đầu tên của ngôi chùa trông như thế nào vẫn là một câu hỏi. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, ngôi chùa đầu tiên là những lều cỏ làm bằng tranh, tre, nứa và lợp bằng lá, cỏ gọi là thảo am, tuy nhiên điều này vẫn chưa được khẳng định.

Thời nhà Lý, Phật giáo được coi là quốc giáo. Các vua nhà Lý bỏ tiền ra xây dựng chùa. Ngoài ra làng xã nhân dân cũng tự bỏ tiền ra xây chùa nhưng cho đến nay thì kiến trúc chùa không còn nữa. Tuy nhiên dựa vào bi kí và những vết tích còn lại có thể thấy phần nào về quy mô và đặc điểm của một số kiến trúc chùa thời Lý như: chùa được xây dựng trên mọI loại địa hình (sườn núi cao, ven sông, ven biển, đồng bằng…); mặt bằng kiến trúc chùa có bình đồ hình vuông và gần vuông và là các đơn nguyên kiến trúc đăng đối trên một trục dài. Chùa thời Lý gồm một quần thể kiến trúc bao quanh một kiến trúc ở giữa như chùa Đọi ở Hà Nam, chính giữa là tháp Sùng  Thiện Diên Linh cao 13 tầng, hai bên tả hữu là chùa chính phía trước là đài Quan âm. Chùa Một Cột là điển hình của lối kiến trúc này.

2. Chùa Một Cột - Lối kiến trúc có một không hai của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo.

Tên thường gọi là chùa Một Cột, nằm trong quần thể chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). Chùa nằm trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thǎng Long thời Lý, nay thuộc phố chùa Một Cột, quận Ba Đình - Hà Nội, ở bên phải Lǎng Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Theo Đại Việt ký sự toàn thư, chùa được xây dựng vào nǎm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 (1049) đời Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm trên toà sen đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua kể lại cho các quan nghe, có người cho là điềm không lành. Sư Thiên Tuế khuyên nhà vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm toà sen của Phật Quan Âm như đã thấy trong mộng. Chùa xây xong, đài sen nghìn cánh đỡ toà Phật sắc hồng, trong đặt tượng Phật vàng lấp lánh. Các nhà sư đến làm lễ, đi vòng quanh chùa niệm Phật cầu phúc cho vua sống lâu, vì thế đặt tên là chùa Diên Hựu.

Theo vǎn bia dựng nǎm Cảnh Trị 3 do hoà thượng Lê Tất Đạt ghi, chùa được dựng từ thời thuộc Đường: "Nǎm đầu niên hiệu Hàm Thông thời Đường..., dựng một cột đá ở giữa hồ, trên cột xây một toà lầu ngọc trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng. Khí đất chung đúc anh linh, cầu gì được nấy. Đến khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo dấu cũ, nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa có Hoàng tử, thường đến đó cầu nguyện. Một đêm nằm mộng thấy Phật Quan Âm mời lên lầu ngồi, ôm một đứa bé đặt vào lòng vua. Tháng đó Hoàng hậu có mang hoàng tử. Vua bèn sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng..."

Đời Lý Nhân Tông, nǎm Anh Vũ Chiêu Thánh 5 (1080) vua cho đúc chuông lớn để treo ở chùa gọi là "Giác Thế chung" (chuông thức tỉnh người đời) và một toà phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng, nhưng vì chuông quá nặng không sao treo lên được, phải để dưới đất nên đánh không kêu. Chỗ ruộng để chuông thấp, có nhiều rùa đến ở, được gọi là ruộng Quy Điền và quả chuông cũng được gọi là chuông Quy Điền.

Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng trước chùa Diên Hựu gọi là tháp Bạch Tuynh. Tháp cao 13 trượng. Từ tháp vào chùa Một Cột đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày Rằm, mồng Một, nhà vua cùng các hậu, phi, cung tần và cận thần tới chùa lễ phật. Đặc biệt cứ đến ngày 8 tháng Tư âm lịch hàng năm là ngày Phật sinh, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh để làm lễ tắm phật ngày hôm sau. Ngày này rất đông các tăng ni phật tử và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn ở kinh đô. Trong ngày này, tại chùa có lễ phóng sinh. Lễ phóng sinh bắt đầu ngay sau lễ tắm phật, nhà vua đứng trên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, sau đó đến các tăng ni và các thiện nam tín nữ đua nhau mỗi người thả một con, bóng chim bay rợp trời.

Quy mô chùa Một Cột vào thế kỷ XII to lớn lộng lẫy hơn như hiện nay rất nhiều. Vǎn bia Tháp sùng Thiện Diên Linh chùa Long Đọi (Nam Hà) dựng nǎm 1121, mười sáu nǎm sau khi chùa mới hoàn thành, cung cấp cho ta hình ảnh chân thực nhất về một ngôi chùa Một Cột thời Lý: "Lòng sùng kính đức Phật, dốc lòng mộ đạo nhân quả, hướng về vườn Tây Cấm nổi danh, xây ngôi chùa Diên Hựu. Theo dấu vết chùa cũ cùng với ý mới của nhà vua ( Lý Nhân Tông). Bia tháp Sùng Thiên Diện Linh (1105) ghi rằng: "…Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột có một đoá hoa sen nghìn cánh xoè ra, trên hoa dựng một ngôi đền màu đỏ sẫm đứng vững toà điện màu xanh, trong đền đặt pho tượng sắc vàng”, vòng quanh hồ là hai dãy hành lang; lại đào ao Bích Trì mỗi bên đều mắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu hai đằng trước hai bên tả hữu, xây bảo tháp Lưu Ly.

"Hằng tháng vào sớm ngày mồng một (ngày sóc), hàng nǎm vào dịp du xuân, nhà vua ngồi xe ngọc, đến chùa mở tiệc chay, làm lễ dâng hương hoa, cầu cho ngôi báu lâu dài, bày chậu thau làm lễ tắm tượng Phật. Trang sức pho tượng tinh tế, biểu đồ tướng mạo của nǎm loại chúng sinh..."

Qua vǎn bia miêu tả, rõ ràng Liên Hoa Đài thời Lý to hơn chùa ngày nay nhiều. Chùa thời Trần cũng không phải là ngôi chùa thời Lý nữa. Như sách Toàn thư đã ghi lại, nǎm 1249 "mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ". Chùa đã qua nhiều đợt tu sửa. Đợt sửa chữa lớn vào nǎm Thiên ứng Chính Bình 18 (1249) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê, triều đình nhiều lần cho tu sửa, thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá. Nǎm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Vǎn Hoà tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường, hành lang tả hữu, gác chuông và cửa tam quan. Nǎm 1852, bố chính Tôn Thất Giao xin đúc chuông mới. Nǎm 1864, tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu, làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ toà sen, chạm trổ thêm công phu tráng lệ. Năm 1922 trường Viễn Đông Bác Cổ đã cho sửa lại chùa theo kiến trúc cũ. Nǎm 1954, trước khi rút khỏi Hà Nội, quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa. Sau ngày tiếp quản thủ đô, Bộ Vǎn Hoá đã cho tu sửa chùa Một Cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn, hoàn thành việc tu sửa vào tháng 4 – 1955.

Toà đài sen (Liên Hoa Đài), ta quen gọi là chùa Một Cột có hình vuông mỗi chiều 3m, mái cong dựng trên cột đá hình trụ cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) có đường kính là 1,2m. Trụ đá gồm 2 khối, gắn rất khéo, thoạt nhìn như một khối đá liền. Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá. ở đây có sự kết hợp táo bạo của trí tưởng tượng lãng mạn đầy thi vị qua hình tượng hoa sen và những giải pháp hoàn hảo về kết cấu kiến trúc gỗ bằng hệ thống móng giằng; đặc biệt là sử dụng các cột chống chéo lớn từ cột đến sàn, vừa tạo thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ như đường lượn của cánh sen, thiếp lập sự hài hoà giữa mái và sàn bởi một đối xứng ảo. Chỉ là một cái lầu gỗ vuông, mỗi cạnh 4 mét, lợp 4 mái cong, trên có lưỡng long triều nguyệt, đặt trên tám con sơn bằng gổ trên đầu một cái cột đá, chùa Một Cột có hình khối kiến trúc rất khiêm tốn nhưng độc đáo. Nhiều người cho rằng đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam Trong khi chế độ phong kiến với những lễ giáo, tôn giáo đã đặt ra những quy định về kiến trúc thì kiến trúc của chùa Một Cột là có một không hai. Bên cạnh đó cấu trúc của chùa Một Cột đã vượt ra ngoài công thức cổ điển của sự cấu tạo vì kèo Việt Nam. Cùng với ao hình vuông phía dưới có thể là biểu tượng cho đất trời (trời tròn, đất vuông), ngôi chùa như vươn lên cái ý niệm cao cả: Lòng nhân ái soi tỏ thế gian. Khối kiến trúc gỗ đá được phù trợ bởi cảnh quan, có ao, có cây cối đã tạo nên sự gần gũi, tinh khiết mà vẫn thanh lịch. Kiến trúc ở đây đã dùng ngôn ngữ hình tượng của nghệ thuật điêu khắc và trở nên gần gũi với con người Việt Nam.

Chùa Một Cột được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật ngày 28-4-1962. Tính đến nay, chùa có tuổi đời 968 năm.

 

 

 

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH SƠN LA ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

 

ThS. Lèo Thị Thơ

                                                                            

                                                         

          Tóm tắt

Bài viết trình bày khái quát vai trò của nguồn nhân lực (NNL) đối với sự phát kinh tế - xã hội (KT-XH). Trên cơ sở phân tích thực trạng NNL của tỉnh Sơn La hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH. Cụ thể: 1/ Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; 2/ Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống cho người dân; 3/ Đẩy mạnh phát triển văn hoá, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc.

Từ khoá: Nguồn nhân lực; tỉnh Sơn La; kinh tế - xã hội.

          1. Vai trò củaNNL đối với sự phát triển KT-XH

Một quốc gia muốn phát triển cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người,… Trong các nguồn lực đó nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.

 NNL là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.

Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL, đặc biệt là NNL chất lượng cao (NNLCLC), tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” ngày càng đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển KT-XH, đó là:

1.1. NNL là điều kiện nền tảng, bắt buộc và không thể thiếu của các hoạt động KT-XH

Kinh tế gia nổi tiếng William Petty đã từng khẳng định, lao động
là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải, vật chất; C.Mác cho rằng, con người là
yếu tố số một của lực lượng sản xuất. Trong truyền thống xã hội Việt Nam
cũng khẳng định “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nhà tương lai Mỹ
Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động trí thức, theo ông ta “Tiền bạc
tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên” [1].

Trong bối cảnh khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, con người - NNLCLC với tư cách  là chủ thể sáng tạo, nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển KT-XH.

1.2. NNL là động lực của các hoạt động KT-XH

Khi đề cập đến vai trò của nguồn lực con người là một trong những
động lực quan trọng nhất của hoạt động KT-XH là chủ yếu nói đến
sức mạnh thể chất và khả năng lao động sáng tạo của con người. Đây là nguồn tiềm năng vô tận của con người. Bởi vì, khi chúng ta càng sử dụng nó càng phát triển và phong phú hơn. Để thúc đẩy kinh tế phát triển cần phải chú trọng hơn nữa nguồn lực con người, coi nó như nguồn lực nội sinh, là động lực thúc đẩy KT-XH phát triển, đáp ứng yêu cầu của đất nước. Con người với tất cả năng lực và phẩm chất tích cực của mình bao gồm: Trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động sáng tạo, niềm tin và ý chí... thì tự mình có thể trở thành động lực của sự phát triển xã hội nói chung.

1.3. NNL là mục tiêu của các hoạt động KT-XH

Nguồn lực con người với tư cách là mục đích của sản xuất, đồng thời là
động lực của sản xuất có nhu cầu không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong mọi phương thức sản xuất xã hội, vấn đề sản xuất cái gì? sản xuất như
thế nào? và sản xuất cho ai? - suy cho cùng đều phục vụ nhu cầu của con
người. Vì vậy, nhu cầu của con người trở thành tác nhân vô cùng quan trọng
kích thích sản xuất. Đây chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền sản xuất
phát triển

1.4. NNLCLC là điều kiện để hội nhập quốc tế, rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng NNL làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

          2. Đánh giá tình hình NNL tỉnh Sơn La hiện nay

Sơn La là tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, được xác định là trung tâm và động lực phát triển kinh tế của cả vùng, có vị trí chiến lược quan trọng về KT-XH, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của cả nước. Hiện nay, toàn tỉnh có gần 1,2 triệu người. Lực lượng lao động có gần 734,74 nghìn người. Trong đó, có 60 vạn lao động nông dân, doanh nghiệp có hơn 1.000  với gần 5 vạn công nhân, các hộ kinh doanh công thương nghiệp có gần 2 vạn lao động. HS phổ thông có trên 21 vạn, SV hơn 1 vạn/năm; Lao động nữ 371,02 nghìn người, nam là 363,72 nghìn người; Lao động thành thị 94,63 nghìn người, nông thôn 640,11 nghìn người; Đội ngũ trí thức (tính từ trình độ cao đẳng chuyên nghiệp trở lên) có  3,5 vạn người. Trí thức trình độ cao (thạc sỹ trở lên ) có 1.000 người, hơn 100 bác sỹ chuyên khoa I, 25 bác sỹ chuyên khoa II, trên 60 chuyên viên cao cấp. Có 47 tiến sỹ (37 người đang làm việc tại Sơn La và 10 người là người Sơn La đang làm việc tại nơi khác trong cả nước); Có 3 Phó giáo sư (01 đang làm việc tại Sơn La, 02 đang làm việc nơi khác),… [2].

Như vậy, từ số liệu trên có thể thấy, lao động của tỉnh Sơn La có sự chênh lêch khá lớn giữa thành thị và nông thôn và trong các loại hình kinh tế. Điều này tạo ra thách thức lớn cho việc điều chỉnh về quy mô, cơ cấu, đặc biệt là phân bổ nguồn lực trên địa bàn tỉnh một cách  hợp lý; tỉ lệ lao động đã qua đào tạo và có trình độ của Sơn La trong những năm qua tăng khá nhanh, song vẫn ở mức thấp,… Nhìn chung, bên cạnh tỉ lệ lao động qua đào tạo nói chung còn thấp, tỉnh Sơn La vẫn còn hạn chế trong việc phát triển NNLCLC, yếu tố quan trọng đến nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay.

Nghị quyết của HĐND tỉnh Sơn La khoá XIII về phát triển nhân lực tỉnh Sơn La giai đoạn 2011- 2020 xác định: để đáp ứng yêu cầu phát triển CNH, HĐH theo định hướng, các mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh cần phải tập trung vào các mục tiêu phát triển, nâng cao chất lượng NNL theo hướng phát triển nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng trên cả 3 yếu tố cơ bản sức khỏe, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức và cơ cấu hợp lý theo nhu cầu phát triển của nền KT-XH; Phát triển NNL trong mối quan hệ mật thiết giữa CNH, HĐH và đô thị, tiếp tục phân bổ lại dân cư trên địa bàn tỉnh nhằm đạt tới sự phát triển hài hòa giữa thành thị và nông thôn, giữa nông nghiệp và các ngành khác, tạo ra sự bứt phá mới về phát triển KT-XH; Phát triển nhân lực làm điểm tựa, thúc đẩy thị trường lao động phát triển, góp phần đáp ứng yêu cầu lao động của tỉnh và đất nước, đồng thời có thể chủ động hội nhập tích cực vào thị trường lao động khu vực và thế giới bằng cách đa dạng hóa và nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu [3]. Đây là những định hướng, mục tiêu phát triển NNL lớn của tỉnh Sơn La trong giai đoạn tới.

          3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng NNL tỉnh Sơn La đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH

          3.1. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo

          Trước hết, Sơn La cần tăng cường đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất - kĩ thuật cho giáo dục, đào tạo theo hướng đồng bộ, chuẩn hoá, tiên tiến và từng bước hiện đại. Đổi mới công tác quản lí tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và NNL đầu tư cho giáo dục; tập trung đầu tư xây dựng các trường chuẩn quốc gia.

          Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, phải quan tâm xây dựng người thầy, do vậy, cần đặc biệt quan tâm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục. Không chỉ thế, cần phải hết sức coi trọng việc hình thành và phát triển đội ngũ đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo và chuẩn nghề nghiệp. Để có đội ngũ giáo viên có chất lượng tốt, cần có chính sách ưu đãi thu hút nhân tài đang công tác trong ngành giáo dục, có kế hoạch đào tạo, tuyển chọn những HS giỏi ở các trường phổ thông gửi vào các trường sư phạm trọng điểm để đào tạo.

          Ngoài ra, đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục - đào tạo, coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Mục đích của đổi mới này để tạo ra NNL có chất lượng cao, có năng lực và kĩ năng thích ứng với thị trường lao động và công nghệ luôn biến đổi, đáp ứng yêu cầu về NNL trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH.

          Bên cạnh đó, Sơn La cần rà soát, bổ sung, xây dựng, hoàn thiện và đổi mới cơ chế chính sách, huy động các nguồn đầu tư, phát triển giáo dục; mạnh dạn nghiên cứu, kiên quyết sửa đổi và thay thế các chính sách đã lạc hậu, bất cập, nhất là cơ chế chính sách về khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng thu hút nhân tài; xây dựng cơ chế hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu trong việc đào tạo NNL cho Sơn La; có cơ chế chính sách và nguồn vốn để mở rộng quy mô và chất lượng đào tạo nghề, bởi thực tế hiện nay đào tạo nghề của Sơn La chưa thực sự phát triển, chưa phục vụ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế, CNH, HĐH.

          3.2. Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống cho người dân

          Sơn La cần quan tâm hơn nữa đến chính sách dân số, nâng cao chất lượng dân số, từng bước cải thiện tiêu chí cơ bản về sức khoẻ cho nhân dân, nâng cao chất lượng thể lực cho bà mẹ và trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Điều này có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển con người của Sơn La.

          Cùng với thực hiện tốt chính sách dân số, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Sơn La cần quan tâm hơn nữa đến cải thiện môi trường sống cho người dân. Thực tế cho thấy, những năm gần đây vấn đề môi trường ở Sơn La có nhiều diễn biến xấu, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, chất lượng dân số, chất lượng NNL. Do đó, để có được môi trường sống lành mạnh, tạo được những con người khoẻ về thể chất, tỉnh cần có những chính sách vĩ mô, chiến lược tổng thể lâu dài, biện pháp đồng bộ, chứ không chỉ là các giải pháp tình thế trước mắt và ý thức trách nhiệm của người dân, các cấp, các ngành ở Sơn La trong việc bảo vệ môi trường cần được nâng cao; kiên quyết xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm huỷ hoại môi trường, đưa các cơ sở sản xuất này ra khỏi khu dân cư; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường nhằm phòng ngừa, khống chế ô nhiễm môi trường gây ra, hoặc khi có ô nhiễm môi trường xảy ra thì có thể chủ động xử lí, giảm thiểu tối đa tác động tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Cần đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường trong các hoạt động sản xuất. Tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn cho hoạt động bảo vệ môi trường.

          3.3. Đẩy mạnh phát triển văn hoá, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc

          Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX, Ban chấp hành Trung ương (khoá XI) khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hoá phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị - xã hội”, “Phát triển văn hoá vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hoá” [4]. Vì vậy, nâng cao chất lượng NNL không thể thiếu môi trường văn hoá.

          Nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hoá đối với sự phát triển xã hội nói chung, NNL của Sơn La nói riêng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XIV xác định: “Phát triển NNL, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc. Trọng tâm là: Phối hợp xây dựng Trường Đại học Tây Bắc và một số trường của tỉnh trở thành trung tâm đào tạo nhân lực đa ngành, NNL có chất lượng đáp ứng yêu cầu chuyển dịch lao động của các địa phương trong vùng; gìn giữ, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc gắn với phát triển du lịch văn hoá, nhân văn” [5].

          Vì vậy, các cấp quản lí cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân, gia đình. Đồng thời, xây dựng và phát triển đời sống văn hoá, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc Thái, H’Mông,…Tăng cường kinh phí đầu tư cho phát triển văn hoá từ nguồn ngân sách nhà nước, đẩy mạnh công tác xã hội hoá. Coi đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững. Khai thác và sử dụng có hiệu quả các công trình văn hoá, sản phẩm văn hoá. Mở rộng hợp tác, giao lưu văn hoá trong nước và quốc tế để tiếp nhận những tinh hoa văn hoá làm giàu cho văn hoá Sơn La.

Bên cạnh đó, tiếp củng cố, mở rộng và đưa cuộc vận động “Xây dựng gia đình văn hoá”, “Làng bản văn hoá”,… đi vào chiều sâu, bảo đảm thực chất, gắn cuộc vận động này với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; mấu chốt là xây dựng và thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực đạo đức phù hợp với đối tượng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương, trong đó có đội ngũ cán bộ, Đảng viên, trước hết là những người đứng đầu phải thực sự nêu gương và là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống,…

          4. Kết luận

Để có được NNLCLC cho tỉnh Sơn La phải xuất phát từ yêu cầu phát triển KT-XH, CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, có như vậy mới có mục tiêu, định hướng phát triển đúng đắn. Để phát triển NNL, nhất là NNL có chất lượng của Sơn La, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, trong đó chú trọng đến các giải pháp có tính chất cơ bản, chủ yếu, mà trước hết là phải đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của Sơn La. Đây được coi là giải pháp chủ yếu để phát triển NNL có chất lượng cho tỉnh “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [4]. Cùng với đó là nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống cho người dân, đẩy mạnh phát triển văn hoá, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc.

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Tạp chí Cộng sản (2012), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia - Sư thật, Hà Nội.

[2]. Tổng cục Thống kê (2015), Niên giám thống kê tỉnh Sơn La 2014, NXB Thống kê, Hà Nội.

[3]. Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Sơn La giai đoạn 2011 – 2020.http://tcdnsonla.edu.vn/quy-hoach-phat-trien-nguon-nhan-luc-tinh-son-la-giai-doan-2011-2020-85.html

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện hội nghị lần thứ IX, Ban Chấp hành Trung ương (Khoá XI), Văn phòng Trung ương Đảng.

[5]. Nguồn: http://susta.vn/bai-viet-Nghi-quyet-di-hoi-i-bieu-dng-bo-tinh-Son-La-ln-thu-XIV-830.html.

[6]. Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/32972/Phat-trien-nguon-nhan-luc-Viet-Nam-giai-doan-20152020-dap-ung.aspx

------------------------------------------------------

 

Bài viết đăng trên Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 6 – 2016.